Tìm hiểu nội dung Điều 189 BLTTHS năm 2015 về “Đối chất”

744

Đối chất là biện pháp điều tra do Điều tra viên tiến hành khi có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn để xác định sự thật vụ án.

Ảnh minh họa.

Mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người về những tình tiết, những vấn đề có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án là căn cứ trực tiếp để Điều tra viên tiến hành đối chất giữa những người này.

Điều luật không quy định cụ thể “có mâu thuẫn trong lời khai” của người nào thì tiến hành đối chất, điều này được hiểu sẽ được đưa ra đối chất giữa những người tham gia tố tụng mà trước đó đã lấy lời khai của họ. Không thể có đối chất giữa những người chưa có lời khai. Như vậy, việc đối chất có thể được tiến hành giữa bị can với bị can, giữa bị can với người bị bắt, bị tạm giữ, người làm chứng, bị hại; giữa bị hại với người làm chứng; giữa những người làm chứng với nhau…Nhưng biện pháp đối chất chỉ thực hiện khi đã tiến hành các hoạt động điều tra khác mà vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn trong các lời khai.

Để đối chất được khách quan, xác định được sự thật vụ án, trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất bảo đảm cho đối chất được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Nếu việc đối chất có bị hại tham gia thì trước khi đối chất Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Nếu có người làm chứng tham gia đối chất thì giải thích rõ cho họ biết nếu họ khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì họ phải chịu trách nhiệm về tội khai báo gian dối, tội từ chối khai báo quy định tại Điều 382 và 383 Bộ luật Hình sự. Việc giải thích về trách nhiệm của những người này phải được ghi vào biên bản đối chất.

Khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất để họ xác định có biết nhau hay không, có quan hệ với nhau như thế nào, sau đó hỏi họ về những tình tiết đang còn có mâu thuẫn cần làm sáng tỏ. Điều tra viên để cho từng người tự trình bày lời khai của mình, có thể hỏi từng người xen kẽ trong quá trình đối chất. Trong trường hợp cần thiết Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, đồ vật, tài liệu và có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi nhau về những vấn đề còn mâu thuẫn.

Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong hoặc trả lời xong các câu hỏi, Điều tra viên mới được nhắc lại những lời khai trước của họ để đảm bảo tính khách quan của lời khai. Sau khi nhắc lại những lời khai trước đó của họ, Điều tra viên có thể yêu cầu họ giải thích về những mâu thuẫn với lời khai trước.

Tất cả các câu hỏi của Điều tra viên, câu hỏi và câu trả lời của người tham gia đối chất đều phải được ghi vào biên bản. Biên bản đối chất được lập theo quy định tại Điều 178 BLTTHS 2015.

Để đảm bảo tính khách quan khi tiến hành đối chất, có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Trong trường hợp này khi bắt đầu tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho những người tham gia đối chất biết và khi kết thúc phải phát lại băng ghi âm, ghi hình nội dung đối chất để Điều tra viên và những người tham gia đối chất cùng nghe và ký xác nhận vào biên bản đối chất.

Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, nếu thấy vẫn còn mâu thuẫn trong các lời khai mà thấy cần thiết phải tiếp tục làm sáng tỏ thì Kiểm sát viên có thể cho tiến hành đối chất. Trình tự, thủ tục do Kiểm sát viên tiến hành đối chất được tiến hành như trường hợp Điều tra viên đối chất.

Điều 189. Đối chất

1. Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.

2. Nếu có người làm chứng hoặc bị hại tham gia thì trước khi đối chất Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.

3. Khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Sau khi nghe đối chất, Điều tra viên có thể hỏi thêm từng người.

Trong quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan; có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu hỏi và trả lời của những người này phải ghi vào biên bản.

Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời khai trước đó của họ.

4. Biên bản đối chất được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này. Việc đối chất có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.

5. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể tiến hành đối chất. Việc đối chất được tiến hành theo quy định tại Điều này.

Thanh Đạt