Tìm hiểu nội dung Điều 38 BLHS năm 2015 về “Hình phạt chính áp dụng đối với cá nhân phạm tội: Tù có thời hạn”

162

Tù có thời hạn là hình phạt tước quyền tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly khỏi cuộc sống xã hội để chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định. Cơ sở giam giữ được hiểu là trại giam hoặc buồng tạm giam tại Nhà tạm giữ do Công an cấp huyện hoặc cấp tương đương trong quân đội quản lý.

Ảnh minh họa.

Hình phạt tù có thời hạn là loại hình phạt thể hiện tính cưỡng chế nghiêm khắc cao hơn so với các loại hình phạt khác như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất. Khi người phạm tội bị áp dụng loại hình phạt này đồng nghĩa với việc họ bị tước một số quyền công dân, bị cách ly khỏi gia đình, xã hội, phải lao động cải tạo tại cơ sở giam giữ trong một khoảng thời gian được ghi nhận trong bản án đã có hiệu lực pháp luật do Tòa án tuyên.

Trong trường hợp người bị kết án bị phạt tù có thời hạn nhưng trước đó đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời hạn tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.

Khoản 2 Điều luật quy định: không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng. Phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý được hiểu là tội phạm do người đó thực hiện có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.

Điều 38. Tù có thời hạn

1. Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định.

Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm.

Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.

2. Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.

Quang Thắng