BLHS năm 2015 đã sửa tên điều luật “hiếp dâm trẻ em” thành tội “hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

1018

BLHS năm 2015 đã sửa tên điều luật “hiếp dâm trẻ em” thành tội “hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Bổ sung tình tiết “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%”. Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này tương tự như tội phạm hiếp dâm, chỉ khác điểm quan trọng nhất là nạn nhận từ đủ 13 đến 16 tuổi. Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi đều coi là phạm tội hiếp dâ trẻ em (điểm b khoản 1 Điều 142 BLHS năm 2015).

 

Ảnh minh họa.

 

Tháng 6/2017, Tội hiếp dâm được sửa đổi so với BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau:

– Khoản 2 sửa nội dung “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%” thành gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 31% đến 60%” và gộp tình tiết i, h làm một tình tiết chung: “Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%”.

– Khoản 3 sửa điểm đ “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên” và gộp tình tiết d, đ làm một tình tiết chung: “Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”.

Chủ thể của tội phạm này là  người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực TNHS. Người  đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chịu TNHS nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 2,3,4 Điều 142 BLHS năm 2015.

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở các hành vi sau:

– Hành vi dùng vũ lực là dùng sức mạnh về thể chất như: vật ngã, giữ chân tay, bịt miệng, bóp cổ, đấm, đá, trói, xé quần áo nạn nhân…

– Đe dọa dùng vũ lực là dùng lời nói hoặc cử chỉ, động tác nhưng chưa tác động trực tiếp vào người nạn nhân để nạn nhân hiểu rằng nếu không cho thủ phạm giao cấu thì có thể bị sử dụng vũ lực ngay.

– Lợi dụng tình trạng không thể tực vệ được của nạn nhân như nạn nhân một mình trong khu rừng vắng , trong đêm tối, nạn nhân đang bị bệnh, đang trong tình trạng say rượu…để giao cấu với họ.

– Dùng thủ đoạn khác là trường hợp người phạm tội dùng những thủ đoạn không có tính chất bạo lực (không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực) nhưng có khả năng làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được để giao cấu với họ. Chẳng hạn, dùng chất gây mê làm cho nạn nhân ngất xỉu, cho uống rượu say, uống thuốc kích dục để giao cấu.

– Giao cấu trái với ý muốn của họ là giao cấu không được sự đồng ý của nạn nhân. Muốn đánh giá thái độ của nạn nhân phải căn cứ vào diễn biến quá trình phạm tội và sự chống trả, phản ứng của nạn nhân.

– Quan hệ tình dục có thể đồng giới hoặc khác giới. Các hành vi quan hệ tình dục khác như dùng mồm, hậu môn…mà không phải là các bộ phận sinh dục nam, nữ như tự nhiên vốn có của con người.

Hiếp dâm người mà người phạm tội chịu trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh là trường hợp người phạm tội lợi dụng các mối quan hệ gần gũi, niềm tin của nạn nhân như bố mẹ đối với con cái, thầy giáo đối với học sinh, thầy thuốc đối với bệnh nhân…để thực hiện hành vi hiếp dâm.

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm có hành động giáo cấu hoặc có hành vi quan hệ tình dục khác, không cần căn cứ là đã giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác xong hay chưa. Nếu người phạm tội mới chỉ có hành vi dùng bạo lực hoặc thủ đoạn khác nhưng chưa kịp giao cấu, chưa kịp có hành vi quan hệ tình dục khác mà bị ngăn chặn thì phạm tội chưa đạt. Nếu nửa chừng chấm dứt tội phạm thì người phạm tội có thể phải chịu TNHS về hành vi thực tế đã gây ra như gây thương tích, làm nhục người khác…

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.

Điều 142 BLHS năm 2015 quy định 3 khung hình phạt:

– Quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

– Quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: Có tính chất loạn luân;Làm nạn nhân có thai; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với 02 người trở lên; Tái phạm nguy hiểm.

– Quy định hình phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Có tổ chức;

+ Nhiều người hiếp một người;

+ Đối với người dưới 10 tuổi;

+ Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội: người phạm tội sau khi được xét nghiệm, có kết luận của bệnh viện là đã bị nhiễm HIV;

+ Làm nạn nhân chết hoặc tự sát: là trường hợp dùng bạo lực hoặc trong quá trình hiếp dâm dẫn đến hậu quả nạn nhân chết. Phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa cái chết của nạn nhân và hành vi của người phạm tội. Nếu sau khi hiếp dâm, người phạm tội còn bị truy cứu về tội giết người (Điều 123).

Nếu vì bị hiếp dâm mà nạn nhân tiêu cực, sợ không lấy được chồng hoặc sợ chồng ruồng bỏ, xấu hổ…mà dẫn tới việc tự sát thì phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả nạn nhân tự sát (hậu quả chết không bắt buộc) với hành vi hiếp dâm.

– Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 

Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Đối với người dưới 10 tuổi;

d) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

e) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 

Tiêu Dao