BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sửa đổi, bổ sung một số nội dung về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp so với BLHS năm 1999

137

Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được quy định tại Điều 226 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có một số nội dung sửa đổi, bổ sung nhằm làm tăng tính minh bạch cũng như nâng cao tính khả thi của việc áp dụng điều luật trong thực tế so với BLHS năm 1999.

 

Ảnh minh họa.

 

Hành vi phạm tội xâm phạm chế độ quản lý nhà nước về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sang tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Đối tượng tác động của tội phạm bao gồm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu (là dấu hiệu dùng để phân biệt hang hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân) và chỉ dẫn địa lý (là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể) đang được bảo hộ tại Việt Nam.

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

Người phạm tội có hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam. Phạm vi các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý được quy định cụ thể tại Điều 129 Luật sở hữu trí tuệ. ( Ví dụ: Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ  thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ; Hoặc sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm mặc dù có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý, nhưng sản phẩm đó không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý.

Hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam bị coi là tội phạm nếu được thực hiện với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, cũng tương tự  như Điều 225 BLHS năm 2015, Điều 226 của BLHS vẫn chưa mô tả rõ thế nào là “qui mô thương mại”.

Chủ thể của tội này có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại đủ điều kiện chịu TNHS theo quy định của BLHS năm 2015. Nếu như BLHS năm 1999 chỉ quy định chủ thể của tội này là cá nhân thì theo quy định của BLHS năm 2015, chủ thể của tội này có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại. Đây là điểm mới của BLHS năm 2015 khi quy định về chủ thể của tội phạm này.

Hình phạt đối với cá nhân phạm tội, như sau:

– Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

– Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung tăng nặng sau:

+ Có tổ chức;

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;

+ Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên;

+ Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 khi quy định về CTTP tăng nặng của tội phạm này là đã làm rõ hơn tình tiết định khung tăng nặng. (Ví dụ: đối với tình tiết “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 171 BLHS năm 1999, thì tại điểm b Khoản 2 Điều 226 BLHS năm 2015, quy định rõ hơn là “phạm tội 02 lần trở lên”. Bên cạnh đó, đã bổ sung một số tình tiết định khung tăng nặng mới với mức định lượng được quy định rõ. Đó là các tình tiết: thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên (điểm c); gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên (điểm d); hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên (điểm đ).”

Quy định của BLHS năm 2015, xử lý người phạm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có phần nghiêm khắc hơn so với quy định tương ứng của BLHS năm 1999. ( Ví dụ: tại Khoản 1 Điều 171 BLHS năm 1999 thì mức tối đa của phạt cải tạo không giam giữ là 2 năm, mức tối thiểu của phạt tiền là 400.000.000 đồng, nhưng theo Khoản 1 Điều 226 BLHS năm 2015 thì mức tối đa của phạt cải tạo không giam giữ là 3 năm, mức tối thiểu của phạt tiền là 500.000.000 đồng.

Hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội, như sau:

– Pháp nhân thương mại thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 226 BLHS năm 2015 với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;

– Pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 226 BLHS năm 2015, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;

Pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt đông trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

 

Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;

d) Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên;

đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;

c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

 

Tiêu Dao