Điểm mới của BLTTHS năm 2015 về Quyền, nghĩa vụ của người đại diện của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi

184

Theo quy định tại khoản 20 Điều 55 BLTTHS năm 2015 người đại diện của người bị buộc tội cũng là người tham gia tố tụng. Quyền, nghĩa vụ của người đại diện của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi được quy định tại nhiều điều khoản khác nhau tại các Điều 331, 338, 418, 420, 421, 422, 423, 469, 470 BLTTHS năm 2015.

 

Ảnh minh họa.

 

Quyền, nghĩa vụ của người đại diện của  người bị buộc tội dưới 18 tuổi cụ thể như sau:

– Phải có nghĩa vụ giám sát người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó theo quyết định của  Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 1 Điều 418);

– Phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời đối với trường hợp người dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này hoặc tiếp tục phạm tội (khoản 2 Điều 418);

– Tham gia tố tụng theo quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 1 Điều 420);

– Được tham gia việc lấy lời khai, hỏi cung người dưới 18 tuổi; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu liên quan đến việc buộc tội người dưới 18 tuổi trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra (khoản 2 Điều 420);

– Được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; phát biểu ý kiến, tranh luận; khiếu nại các hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các quyết định của Tòa án khi tham gia phiên tòa (khoản 3 Điều 420);

– Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và có mặt khi lấy lời khai người bị bắt, hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi (khoản 1 Điều 421)

– Được quyền có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can (khoản 2 Điều 421)

– Được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can là người dưới 18 tuổi nếu được Điều tra viên, Kiểm sát viên đồng ý (khoản 3 Điều 421).

– Được hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc khoản 3 Điều 421. 

 Được quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội (khoản 2 Điều 422);

– Được quyền có mặt tại phiên tòa xét xử bị cáo là người dưới 18 tuổi (khoản 3 Điều 423);

– Được quyền khiếu nại quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra;  hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  (hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người mà mình là người đại diện (khoản 1 Điều 469; Điều 470).

– Được quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm (khoản 1 Điều 331);

– Được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị bằng văn bản trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo (khoản 1 Điều 338);

– Được Viện kiểm sát gửi quyết định kháng nghị kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị nếu có liên quan đến kháng nghị.

 

Tiêu Dao