Hội nghị trực tuyến quán triệt Luật CAND

53

Ngày 7-12, Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an tổ chức buổi báo cáo thời sự theo hình thức trực tuyến giữa điểm cầu Hà Nội; TP. Hồ Chí Minh và Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Nội dung của Hội nghị trực tuyến quán triệt những nội dung của Luật CAND dành cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Công an các đơn vị, địa phương và báo cáo viên các cấp trong CAND. Trực tiếp quán triệt các nội dung của Luật CAND (sửa đổi) có Trung tướng, GS – TS Nguyễn Ngọc Anh – Cục trưởng Cục Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an.

Về phía điểm cầu Công an tỉnh Quảng Bình có sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Công an tỉnh và chỉ huy Công an các đơn vị, địa phương.

Điểm cầu hội nghị trực tuyến quán triệt những nội dung của Luật CAND (sửa đổi).

Theo đó, những điểm mới, các nội dung sửa đổi, Luật CAND (sửa đổi) thay thế cho Luật CAND năm 2014 (Luật năm 2014), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2019 (riêng các quy định về cấp bậc hàm cao nhất là cấp tướng; phong, thăng, giáng, tước cấp bậc hàm cấp tướng; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức các chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là cấp tướng có hiệu lực thi hành từ ngày 11/01/2019).

Luật CAND (sửa đổi) đã thể chế hóa được quan điểm, chủ trương của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15-3-2018 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về bảo vệ ANQG, bảo đảm trật tự, ATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm; khắc phục những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thi hành Luật CAND năm 2014; bảo đảm đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. Luật CAND (sửa đổi) gồm 7 Chương, 46 Điều.

So với Luật CAND năm 2014, Luật tăng 1 Điều; sửa đổi, bổ sung 34 Điều; giữ nguyên 12 Điều. Cụ thể những điểm mới cơ bản sau: Một là, bổ sung quy định mới trách nhiệm của Chính phủ, bộ, ngành trung ương, HĐND và UBND các cấp đối với hoạt động bảo vệ ANQG, bảo đảm trật tự, ATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật và xây dựng CAND. Hai là, hoàn thiện thêm một bước quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của CAND cho phù hợp với các đạo luật mới và thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Ba là, Luật CAND (sửa đổi) sửa đổi các quy định về hệ thống tổ chức của CAND để làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15-3-2018 của Bộ Chính trị, trong đó có 3 chủ trương lớn, quan trọng về mô hình tổ chức (gồm: xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy; sáp nhập Cảnh sát PCCC với Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; không tổ chức cấp tổng cục thuộc Bộ Công an). Bốn là, tạo cơ sở pháp lý để bố trí, sắp xếp lại hệ thống chức vụ, chức danh của sĩ quan CAND; sửa đổi quy định cấp bậc hàm cao nhất đối với chức vụ, chức danh của sĩ quan CAND hợp lý hơn, chặt chẽ hơn, phù hợp với cách bố trí lực lượng và mô hình tổ chức mới của CAND các cấp. Năm là, Luật CAND (sửa đổi) bổ sung quy định về công nghiệp an ninh. Tuy nhiên, về lâu dài Bộ Công an kiến nghị Quốc hội cho xây dựng Luật về công nghiệp an ninh.

Trung tướng, GS – TS Nguyễn Ngọc Anh – Cục trưởng Cục Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an quán triệt các nội dung Luật CAND (sửa đổi).

Về chức vụ, chức danh được sửa đổi, bổ sung. Luật CAND không còn các quy định có liên quan đến chức vụ “Tổng cục trưởng”. Luật cũng không còn quy định về cấp bậc hàm cao nhất đối với chức vụ Tổng cục trưởng, Phó tổng cục trưởng; thẩm quyền bổ nhiệm Tổng cục trưởng, Phó tổng cục trưởng và các quy định khác có liên quan. Luật CAND (sửa đổi) bỏ khoản 2 Điều 16 Luật năm 2014, để phục vụ cho việc sáp nhập 20 Cảnh sát PCCC với Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tinh giảm các đầu mối trực thuộc 20 đơn vị này. Theo đó, trong tổ chức, bộ máy của mỗi Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ có một đơn vị cấp phòng thực hiện nhiệm vụ PCCC; các phòng nghiệp vụ và phòng cảnh sát PCCC ở các quận, huyện, khu vực thuộc Cảnh sát PCCC tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trước đây cũng được thu gọn lại cho phù hợp.

Về quy định phong tướng: Về vị trí chức vụ có trần cấp bậc hàm Tướng, kế thừa Luật năm 2014, Luật CAND (sửa đổi) quy định Bộ trưởng Bộ Công an có trần cấp bậc hàm Đại tướng. 6 Thứ trưởng có trần cấp bậc hàm Thượng tướng. Số lượng Trung tướng không quá 35 gồm lãnh đạo một số Cục, giám đốc Công an TP. Hà Nội và Hồ Chí Minh. Cấp hàm Thiếu tướng là không quá 157: Theo quy định tại Điều 25 gồm: Cục trưởng của các đơn vị trực thuộc Bộ Công an và chức vụ, chức danh tương đương, trừ quy định tại điểm c khoản 1 Điều này; Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở địa phương được phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh loại I và là địa bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự, diện tích rộng, dân số đông. Số lượng không quá 11; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương, số lượng không quá 03; Phó Cục trưởng, Phó Tư lệnh và tương đương của các đơn vị trực thuộc Bộ Công an quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, số lượng: 17 đơn vị mỗi đơn vị không quá 04, các đơn vị còn lại mỗi đơn vị không quá 03; Phó Giám đốc Công an thành phố Hà Nội, Phó Giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh, số lượng mỗi đơn vị không quá 03; Sĩ quan biệt phái được phê chuẩn chức vụ Ủy viên Thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội hoặc được bổ nhiệm chức vụ Tổng cục trưởng hoặc tương đương.

Hiện nay, theo quy định, cả nước có 11 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được xếp loại đơn vị hành chính loại I (gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Gia Lai, Đắk Lắk, Đồng Nai). Bên cạnh tiêu chí “đơn vị hành chính loại I”, Luật quy định thêm một tiêu chí khác: “là địa bàn trọng điểm, phức tạp về ANTT, diện tích rộng, dân số đông”. Khi Luật có hiệu lực, Bộ Công an sẽ căn cứ vào cả hai tiêu chí đó để đề nghị cơ quan có thẩm quyền phong, thăng cấp hàm Thiếu tướng cho Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố nêu trên.

Về xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy: Luật CAND (sửa đổi) bỏ khoản 3 và đoạn cuối của khoản 4 Điều 16 của Luật năm 2014, qua đó xác định Công an xã, phường, thị trấn là công an chính quy, đồng thời giao: “Chính phủ quy định cụ thể việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy”. Đối với Công an xã, thị trấn đã tổ chức công an chính quy, các chức danh Công an xã bán chuyên trách được bổ nhiệm, bố trí theo quy định của Pháp lệnh Công an xã kết thúc nhiệm vụ và được sử dụng tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội tại cơ sở, được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Pháp lệnh Công an xã năm 2008 cho đến khi có văn bản quy phạm pháp luật khác.

Đối với Công an, thị trấn chưa tổ chức công an chính quy thì các quy định về Công an xã tiếp tục được áp dụng theo Pháp lệnh Công an xã, Luật Cán bộ, công chức và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Như vậy, việc xây dựng Công an xã, thị trấn sẽ có lộ trình, bước đi phù hợp; lộ trình cụ thể sẽ do Chính phủ quy định cụ thể trong nghị định.

Ngoài các quy định trên, Luật CAND năm 2018 còn có nhiều điểm mới khác thể hiện trong các điều luật quy định về: giải thích từ ngữ; phân loại, bố trí sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ CAND; cấp bậc hàm cao nhất là cấp tá, cấp úy…

 

                                                                   Trần Tuấn