Một số nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống mua bán người

356

 1. Sự cần thiết xây dựng Luật

Trong những năm qua, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và xác định phòng, chống mua bán người, đặc biệt là công tác phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em là công tác lớn, quan trọng nên đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho hoạt động này, như: Hiến pháp; Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009); Bộ luật tố tụng hình sự; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh phòng, chống mai dâm; Quyết định 312/2005/QĐ-TTg ngày 30/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các đề án thuộc Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2005-2010; Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về…..Trên cơ sở pháp lý trên, các cấp, các ngành, các lực lượng chức năng đã triển khai thực hiện có hiệu quả các mặt công tác, góp phần quan trọng trong công tác phòng, chống tội phạm mua bán người và hỗ trợ các nạn nhân bị mua bán hòa nhập cộng đồng.
Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của thực tiễn, hướng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, các quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người đã bộc lộ những hạn chế, đó là: Văn bản điều chỉnh về công tác này chủ yếu là các văn bản dưới luật, hiệu lực pháp lý chưa cao, chưa mang tính đồng bộ và toàn diện; chưa xác định rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong công tác này; các quy định liên quan đến tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán có điều kiện học nghề, tìm việc làm, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng mới chỉ đề cập đến đối tượng nạn nhân là phụ nữ, trẻ em từ nước ngoài trở về mà chưa đề cập đến các nạn nhân bị mua bán trong nước và nạn nhân là nam giới. Công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội còn sơ hở, thiếu sót, nhất là trong quản lý người nước ngoài, quản lý hộ khẩu, quản lý xuất, nhập cảnh, hôn nhân và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; việc đánh giá tình hình, thực trạng hoạt động của tội phạm mua bán người chưa được thường xuyên; hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người còn thiếu cơ sở pháp lý, nên chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phối hợp…
Tình hình trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện pháp luật về phòng, chống mua bán người, để tạo cơ sở pháp lý đầu đủ, thống nhất và cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và công tác đấu tranh phòng, chống mua bán người trong tình hình mới.
2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng luật
Luật phòng, chống mua bán người được xây dựng trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau:
– Thể chế hóa chủ trương hoàn thiện pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm theo hướng xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp luật là nòng cốt, phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm theo Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
– Tuân thủ Hiến pháp, bảo đảm tính kế thừa, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và bảo đảm tính khả thi; tổng kết đầy đủ và toàn diện, khảo sát thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống mua bán người trong những năm qua; kế thừa các quy định còn phù hợp, đồng thời bổ sung những nội dung mới cho phù hợp với tình hình hiện nay.
– Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia đấu tranh phòng, chống mua bán người và hỗ trợ, giúp đỡ nạn nhân bị mua bán, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống mua bán người hiện nay cũng như những năm tiếp theo.
– Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp về lĩnh vực này của các nước trong khu vực và trên thế giới phù hợp với  điều kiện thực tiễn của Việt Nam, pháp luật, thông lệ và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Từ đó, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn nữa trong công tác hợp tác quốc tế đấu tranh phòng, chống mua bán người.
3. Một số nội dung cơ bản của Luật
– Chương I (Từ Điều 1 đến Điều 6) quy định: Phạm vi điều chỉnh; Giải thích từ ngữ; Các hành vi nghiêm cấm; Nguyên tắc phòng, chống mua bán người; Chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người; Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân.
– Chương II: (Từ Điều 7 đến Điều 18) quy định: Thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống mua bán người; Tư vấn về phòng ngừa mua bán người; Quản lý về an ninh, trật tự; Quản lý các hoạt động kinh doanh dịch vụ; quy định lồng ghép nội dung phòng ngừa mua bán người vào các chương trình phát triển kinh tế – xã hội; Cá nhân, Gia đình, Nhà trường và các cơ sở giáo dục, đào tạo, Cơ quan thông tin đại chúng, Mặt trận Tổ quốc Viện Nam và các tổ chức thành viên, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phòng ngừa mua bán người và phòng ngừa mua bán người trong các tổ chức, cơ sở họat động kinh doanh, dịch vụ.
– Chương III (Từ Điều 19 đến Điều 23) về phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người, quy định: Tố giác, tin báo, tố cáo hành vi vi phạm; Phát hiện ngăn chặn hành vi vi phạm; Giải quyết tin báo, tố giác, tố cáo hành vi vi phạm và xử lý vi phạm.
– Chương IV (Từ Điều 24 đến Điều 31) quy định: Về tiếp nhận, xác minh nạn nhân bị mua bán trong nước; Tiếp nhận, xác minh nạn nhân được giải cứu; Tiếp nhận, xác minh nạn nhân từ nước ngoài trở về; quy định các căn cứ để xác định nạn nhân; Giấy tờ, tài liệu chứng nhận nạn nhân; Giải cứu, bảo vệ nạn nhân; Bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân thích của nạn nhân; Bảo vệ bí mật thông tin về nạn nhân.
– Chương V (Từ Điều 32 đến Điều 40): Quy định nạn nhân được hỗ trợ nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại; Hỗ trợ y tế; Hỗ trợ tâm lý; Trợ giúp pháp lý; Hỗ trợ học văn hóa, học nghề; Trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn và quy định cơ quan, tổ chức thực hiện việc hỗ trợ nạn nhân; Cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
– Chương VI (Từ Điều 41 đến Điều 52): quy định trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, Ngành và địa phương trong phòng, chống mua bán người, gồm: Trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người; Trách nhiệm của Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; Bộ Y tế; Bộ Ngoại giao; Bộ Tư pháp; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Thông tin và Truyền thông; Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và  trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp.
– Chương VII (Từ Điều 53 đến Điều 56): Quy định về hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người, gồm: Nguyên tắc hợp tác quốc tế; Thực hiện hợp tác quốc tế; Hợp tác quốc tế trong việc giải cứu và hồi hương nạn nhân; Tương trợ tư pháp.

VĂN PHÒNG CÔNG AN TỈNH