Những nội dung cơ bản của Luật Đấu giá tài sản năm 2017

2792

Tại Kỳ họp thứ 2, Kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIV đã thông qua 15 luật, trong đó có Luật Đấu giá tài sản năm 2017 liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Công an nhân dân và công tác đảm bảo an ninh, trật tự.

 

 

Cổng TTĐT Công an Quảng Bình xin giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật Đấu giá tài sản năm 2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

Luật Đấu giá tài sản gồm 08 chương, 81 điều, cụ thể như sau:

  1. Những quy định chung (Chương I)

1.1. Về phạm vi điều chỉnh

Theo quy định tại Điều 1, phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu giá tài sản bao gồm nguyên tắc, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản; đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản; thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản; xử lý vi phạm, hủy kết quả đấu giá tài sản, bồi thường thiệt hại; quản lý nhà nước về đấu giá tài sản.

Theo đó, Luật Đấu giá tài sản quy định tài sản bán đấu giá bao gồm tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá và tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, Luật liệt kê cụ thể các loại tài sản này trên cơ sở rà soát quy định tại pháp luật chuyên ngành nhằm bảo đảm công khai, minh bạch, làm cơ sở cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ trình tự, thủ tục quy định tại Luật Đấu giá tài sản khi bán đấu giá các loại tài sản đó. Đồng thời, để đảm bảo tính thống nhất, ổn định lâu dài, Luật Đấu giá tài sản có quy định mở trong trường hợp pháp luật chuyên ngành sau này có quy định tài sản phải bán thông qua đấu giá thì cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.

1.2. Về nguyên tắc đấu giá

Nguyên tắc đấu giá tài sản được quy định tại Điều 6, với các nội dung cụ thể sau:

– Tuân thủ quy định của pháp luật;

– Bảo đảm tính độc lập, trung thực, công khai, minh bạch, công bằng, khách quan;

– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản, đấu giá viên;

– Cuộc đấu giá phải do đấu giá viên điều hành, trừ trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện.

1.3. Về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá ngay tình

Luật Đấu giá tài sản khẳng định quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá và người mua được tài sản đấu giá ngay tình. Theo đó, để tăng cường cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích của người có tài sản, người mua tài sản bán đấu giá, Luật quy định trường hợp có người thứ ba tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá thì quyền sở hữu vẫn thuộc về người mua được tài sản đấu giá ngay tình. Việc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá, khiếu nại, khởi kiện về hiệu lực pháp lý của cuộc đấu giá thành, việc hủy kết quả đấu giá tài sản quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 72 của Luật này được thực hiện theo thủ tục rút gọn của pháp luật tố tụng dân sự (Điều 7).

1.4. Về giá khởi điểm, giám định tài sản đấu giá

Luật quy định giá khởi điểm của tài sản đấu giá được xác định tại thời điểm trước khi ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản hoặc trước khi thành lập Hội đồng đấu giá tài sản hoặc trước khi tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng tự đấu giá (Điều 8). Giá khởi điểm của tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá được xác định theo quy định của pháp luật áp dụng đối với loại tài sản đó. Giá khởi điểm của tài sản thuộc sở hữu cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá thì do người có tài sản đấu giá tự xác định hoặc ủy quyền cho tổ chức đấu giá tài sản hoặc cá nhân, tổ chức khác xác định.

Luật quy định tài sản đấu giá được giám định theo quy định của pháp luật hoặc khi có yêu cầu của người tham gia đấu giá và được sự đồng ý của người có tài sản đấu giá. Trình tự, thủ tục giám định được thực hiện theo quy định của pháp luật áp dụng đối với tài sản đó. Trong trường hợp giám định theo yêu cầu thì người yêu cầu thanh toán chi phí giám định.

1.5. Về các hành vi bị nghiêm cấm

Để đề cao trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, người có tài sản, người tham gia đấu giá, qua đó góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động đấu giá tài sản, Luật Đấu giá tài sản quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, cá nhân, tổ chức khác tại Điều 9 của Luật, cụ thể:

– Nghiêm cấm đấu giá viên thực hiện các hành vi: cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng Chứng chỉ hành nghề đấu giá của mình; lợi dụng danh nghĩa đấu giá viên để trục lợi; thông đồng, móc nối với người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, tổ chức thẩm định giá, tổ chức giám định tài sản đấu giá, cá nhân, tổ chức khác để làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, dìm giá, làm sai lệch hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản; hạn chế cá nhân, tổ chức tham gia đấu giá không đúng quy định của pháp luật; vi phạm Quy tắc đạo đức nghề nghiệp đấu giá viên; các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật có liên quan.

– Nghiêm cấm tổ chức đấu giá tài sản thực hiện các hành vi sau: cho tổ chức khác sử dụng tên, Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức mình để hành nghề đấu giá tài sản; thông đồng, móc nối với người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, tổ chức thẩm định giá, tổ chức giám định tài sản đấu giá, cá nhân, tổ chức khác để làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, dìm giá, làm sai lệch hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản; cản trở, gây khó khăn cho người tham gia đấu giá trong việc đăng ký tham gia đấu giá, tham gia cuộc đấu giá; để lộ thông tin về người đăng ký tham gia đấu giá nhằm mục đích trục lợi; nhận bất kỳ một khoản tiền, tài sản hoặc lợi ích nào từ người có tài sản đấu giá ngoài thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật, chi phí dịch vụ khác liên quan đến tài sản đấu giá theo thỏa thuận; các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật có liên quan.

– Nghiêm cấm Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện các hành vi sau: thông đồng, móc nối với người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, tổ chức thẩm định giá, tổ chức giám định tài sản đấu giá, cá nhân, tổ chức khác để làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, dìm giá, làm sai lệch hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản; cản trở, gây khó khăn cho người tham gia đấu giá trong việc đăng ký tham gia đấu giá, tham gia cuộc đấu giá; để lộ thông tin về người đăng ký tham gia đấu giá nhằm mục đích trục lợi; các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật có liên quan.

– Nghiêm cấm người có tài sản đấu giá thực hiện các hành vi sau: thông đồng, móc nối với đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, cá nhân, tổ chức khác để làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá, dìm giá, làm sai lệch hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản; nhận bất kỳ một khoản tiền, tài sản hoặc lợi ích nào từ đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, người tham gia đấu giá để làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản; các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật có liên quan.

– Nghiêm cấm người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, cá nhân, tổ chức khác thực hiện các hành vi sau: cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ giả mạo để đăng ký tham gia đấu giá, tham gia cuộc đấu giá; thông đồng, móc nối với đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá khác, cá nhân, tổ chức khác để dìm giá, làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản; cản trở hoạt động đấu giá tài sản; gây rối, mất trật tự tại cuộc đấu giá; đe dọa, cưỡng ép đấu giá viên, người tham gia đấu giá khác nhằm làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản; các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật có liên quan.

  1. Đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản (Chương II)

2.1. Đấu giá viên (Mục 1)

 2.1.1. Về tiêu chuẩn đấu giá viên, đào tạo nghề đấu giá, tập sự hành nghề đấu giá

Tại Điều 10 của Luật quy định người đủ tiêu chuẩn để trở thành đấu giá viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt; có bằng tốt nghiệp đại học hoặc trên đại học thuộc một trong các chuyên ngành luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng; tốt nghiệp khóa đào tạo nghề đấu giá quy định tại Điều 11 của Luật này, trừ trường hợp được miễn đào tạo nghề đấu giá quy định tại Điều 12 của Luật này; đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ đấu giá viên và tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Luật đấu giá tài sản quy định theo hướng người có đủ tiêu chuẩn theo quy định và có thời gian làm việc trong lĩnh vực được đào tạo từ 03 năm trở lên, muốn trở thành đấu gia viên  phải tham gia khóa đào tạo nghề đấu giá với thời gian là 06 tháng; tập sự hành nghề đấu giá trong thời gian 06 tháng và đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá. Luật Đấu giá tài sản cũng đã thu hẹp đối tượng được miễn đào tạo nghề đấu giá, theo đó chỉ những người đã là luật sư, công chứng viên, thừa phát lại, quản tài viên, trọng tài viên có thời gian hành nghề từ 02 năm trở lên; người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên mới được miễn đào tạo.

2.1.2. Về việc cấp, thu hồi, cấp lại Chứng chỉ hành nghề đấu giá

Trên cơ sở quán triệt chủ trương đơn giản hóa thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ công tác quản lý nhà nước, các điều 14, 16, 17 của Luật quy định cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, thu hồi, cấp lại Chứng chỉ hành nghề đấu giá. Đồng thời, để minh bạch hóa các quy định về cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá viên, Điều 15 của Luật quy định những trường hợp không được cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá.

Luật quy định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá; trong trường hợp từ chối phải thông báo lý do bằng văn bản. Người bị từ chối cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá có quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.

2.1.3. Về hình thức hành nghề của đấu giá viên

Luật quy định đấu giá viên hành nghề tại doanh nghiệp đấu giá tài sản bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập hoặc làm việc theo hợp đồng lao động tại doanh nghiệp đấu giá tài sản hoặc hành nghề tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc hành nghề tại tổ chức mà Nhà nước sử dụng sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng. Mỗi đấu giá viên chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một doanh nghiệp đấu giá tài sản hoặc ký hợp đồng lao động với một doanh nghiệp đấu giá tài sản (Điều 18).

Luật cũng quy định đấu giá viên hành nghề theo các hình thức này đều thực hiện theo quy định của Luật này, pháp luật về cán bộ, công chức, pháp luật về viên chức, pháp luật về lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2.1.4. Quyền, nghĩa vụ và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên

Để nâng cao trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên, Điều 19 của Luật quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của đấu giá viên bao gồm: hành nghề trên toàn lãnh thổ Việt Nam; trực tiếp điều hành cuộc đấu giá; truất quyền tham gia cuộc đấu giá của người tham gia đấu giá có hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 9 của Luật này; dừng cuộc đấu giá khi phát hiện có hành vi thông đồng, dìm giá hoặc gây rối, mất trật tự tại cuộc đấu giá và thông báo cho tổ chức đấu giá tài sản; điều hành cuộc đấu giá theo hợp đồng giữa hội đồng đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản nơi đấu giá viên hành nghề trong trường hợp cuộc đấu giá do hội đồng thực hiện hoặc tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng trong trường hợp tổ chức đấu giá; hướng dẫn, giám sát việc tập sự của người tập sự hành nghề đấu giá; các quyền khác của pháp luật; tuân thủ nguyên tắc, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản quy định tại Luật này; tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp đấu giá viên; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước tổ chức đấu giá tài sản về cuộc đấu giá do mình thực hiện; chịu trách nhiệm về các công việc do người tập sự hành nghề đấu giá mà mình hướng dẫn thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 13 của Luật này; tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định tại Điều 20 của Luật này và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, Luật quy định tổ chức đấu giá tài sản, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho đấu giá viên của tổ chức mình (Điều 20).

2.2. Tổ chức đấu giá tài sản (Mục 2)

Luật Đấu giá tài sản quy định tổ chức đấu giá tài sản bao gồm trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản (Điều 22) và doanh nghiệp đấu giá tài sản (Điều 23). Tuy nhiên, khác với quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, Luật Đấu giá tài sản quy định doanh nghiệp đấu giá tài sản chỉ được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Quy định này của Luật nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, chuyên môn hóa trong hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản, nâng cao chất lượng dịch vụ đấu giá tài sản trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm đầy đủ trách nhiệm của doanh nghiệp đấu giá và đấu giá viên đối với Nhà nước và khách hàng.

Theo đó, Luật quy định đối với doanh nghiệp tư nhân thì chủ doanh nghiệp phải là đấu giá viên, đồng thời là giám đốc doanh nghiệp. Đối với công ty hợp danh thì phải có ít nhất một thành viên hợp danh là đấu giá viên, tổng giám đốc hoặc giám đốc của công ty hợp danh là đấu giá viên; doanh nghiệp đấu giá tài sản phải có trụ sở, cơ sở vật chất, các trang thiết bị cần thiết bảo đảm cho hoạt động đấu giá tài sản.

Ngoài ra, Luật Đấu giá tài sản còn quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức đấu giá tài sản (Điều 24); đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản (Điều 25); thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, cấp lại Giấy đăng ký hoạt động, cung cấp thông tin về nội dung, công bố nội dung đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản (các điều 26, 27, 28); quy định về chi nhánh và văn phòng đại diện của doanh nghiệp đấu giá tài sản (các điều 29, 30); chấm dứt hoạt động và thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản (Điều 31, 32).

  1. Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản (Chương III)

3.1. Về hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản

Luật quy định hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản được ký kết giữa tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản bán đấu giá, đươc lập thành văn bản và được thực hiện theo quy định vủa pháp luật về dân sự và quy định của Luật này. Quyền, nghĩa vụ của tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá được thực hiện theo hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, quy định của Luật này, quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Luật cũng quy định khi ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá có trách nhiệm cung cấp cho tổ chức đấu giá tài sản bằng chứng chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc quyền được bán tài sản theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về bằng chứng đó. Tổ chức đấu giá tài sản có trách nhiệm kiểm tra thông tin về quyền được bán tài sản do người có tài sản đấu giá cung cấp. Tổ chức đấu giá tài sản không chịu trách nhiệm về giá trị, chất lượng của tài sản đấu giá, trừ trường hợp tổ chức đấu giá tài sản không thông báo đầy đủ, chính xác cho người tham gia đấu giá những thông tin cần thiết có liên quan đến giá trị, chất lượng của tài sản đấu giá theo hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản.

3.2. Về niêm yết việc đấu giá tài sản

Niêm yết, thông báo công khai việc đấu giá tài sản là một thủ tục quan trọng trong trình tự, thủ tục bán đấu giá nhằm đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan của hoạt động đấu giá tài sản và đảm bảo có nhiều người có nhu cầu mua tài sản đấu giá nắm được thông tin về tài sản để có thể bán được tài sản với giá cao nhất thông qua đấu giá tài sản. Do vậy, Điều 35 của Luật quy định thời gian niêm yết, ít nhất là 07 ngày làm việc đối với tài sản là động sản, 15 ngày trước ngày mở cuộc đấu giá đối với tài sản là bất động sản, đồng thời quy định rõ những thông tin chính cần phải niêm yết, thông báo công khai.

3.3.Về xem tài sản đấu giá, địa điểm đấu giá

Để đảm bảo về thời gian cho người tham gia đấu giá xem tài sản đấu giá, Điều 36 của Luật quy định kể từ ngày niêm yết việc đấu giá tài sản cho đến ngày mở cuộc đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản tổ chức cho người tham gia đấu giá được trực tiếp xem tài sản hoặc mẫu tài sản trong khoảng thời gian liên tục ít nhất là 02 ngày. Đối với tài sản đấu giá là quyền tài sản hoặc tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì tổ chức đấu giá tài sản tổ chức cho người tham gia đấu giá được xem giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản và tài liệu liên quan trong khoảng thời gian liên tục ít nhất là 02 ngày kể từ ngày niêm yết việc đấu giá tài sản cho đến ngày mở cuộc đấu giá.

Luật quy định cuộc đấu giá được tổ chức tại trụ sở của tổ chức đấu giá tài sản, nơi có tài sản đấu giá hoặc địa điểm khác theo thỏa thuận của người có tài sản đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 37).

3.4. Về đăng ký tham gia đấu giá

Điều 38 Luật Đấu giá tài sản quy định cá nhân, tổ chức đăng ký tham gia đấu giá thông qua việc nộp hồ sơ tham gia đấu giá hợp lệ và tiền đặt trước cho tổ chức đấu giá tài sản theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Để đảm bảo việc đăng ký tham gia đấu giá được minh bạch, thuận lợi, Luật quy định tổ chức đấu giá tài sản bán hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá, tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá trong giờ hành chính, liên tục kể từ ngày niêm yết việc đấu giá cho đến trước ngày mở cuộc đấu giá 02 ngày. Ngoài các điều kiện đăng ký tham gia đấu giá quy định tại Luật này và pháp luật có liên quan, người có tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản không được đặt thêm yêu cầu, điều kiện đối với người tham gia đấu giá.

Bên cạnh đó, để đảm bảo tính khách quan trong việc đấu giá, hạn chế những trường hợp thông đồng giữa người tham gia đấu giá và đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá, Luật còn quy định cụ thể những trường hợp không được đăng ký tham gia đấu giá như: người không có năng lực hành vi dân sự, người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người tại thời điểm đăng ký tham gia đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; người làm việc trong tổ chức đấu giá tài sản thực hiện cuộc đấu giá; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá; người trực tiếp giám định, định giá tài sản; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của người trực tiếp giám định, định giá tài sản; người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền xử lý tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản, người ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản của người khác theo quy định của pháp luật; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền xử lý tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản, người ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, người có quyền quyết định bán tài sản của người khác theo quy định của pháp luật; người không có quyền mua tài sản đấu giá theo quy định của pháp luật áp dụng đối với loại tài sản đó.

3.5. Tiền đặt trước và xử lý tiền đặt trước

Nhằm hạn chế những đối tượng không thực sự có nhu cầu mua nhưng vẫn tham gia đấu giá nhằm mục đích trục lợi, gây khó khăn cho cuộc đấu giá, Điều 39 của Luật Đấu giá tài sản quy định người tham gia đấu giá tài sản phải nộp tiền đặt trước tối thiểu là 5% và tối đa là 20% giá khởi điểm của tài sản đấu giá. Tiền đặt trước được nộp vào tài khoản thanh toán riêng của tổ chức đấu giá tài sản được mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Theo đó, trường hợp khoản tiền đặt trước có giá trị dưới 5 triệu đồng thì người tham gia đấu giá có thể nộp trực tiếp cho tổ chức đấu giá. Các bên có thể thỏa thuận thay thế nộp tiền đặt trước bằng bảo lãnh ngân hàng.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia đấu giá, Luật quy định tổ chức đấu giá chỉ được thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá trong thời hạn 03 ngày làm việc trước ngày mở cuộc đấu giá, trừ trường hợp tổ chức đấu giá tài sản và người tham gia đấu giá có thỏa thuận khác nhưng phải trước ngày mở cuộc đấu giá. Tổ chức đấu giá tài sản có trách nhiệm trả lại khoản tiền đặt trước và thanh toán tiền lãi (nếu có) trong trường hợp người tham gia đấu giá không trúng đấu giá trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá hoặc trong thời hạn khác do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này.

Để đảm bảo cuộc bán đấu giá được khách quan, minh bạch, Luật quy định những trường hợp không được nhận lại tiền đặt trước như: đã nộp tiền đặt trước nhưng không tham gia cuộc đấu giá, buổi công bố giá mà không  thuộc trường hợp bất khả kháng; bị truất quyền tham gia đấu giá; từ chối ký biên bản đấu giá; rút lại giá đã trả hoặc giá đã chấp nhận; từ chối kết quả trúng đấu giá.

3.6. Hình thức đấu giá, phương thức đấu giá

Nhằm minh bạch hóa, công khai hóa quá trình đấu giá tài sản, khắc phục tình trạng những người tham gia đấu giá liên kết với nhau để thông đồng, dìm giá và tình trạng người tham gia đấu giá bị tác động, khống chế khi trả giá, ngoài hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói như quy định của pháp luật hiện hành, Điều 40 của Luật quy định các hình thức đấu giá bao gồm: đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá; đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá; đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp; đấu giá trực tuyến. Quy định này tạo cơ chế linh hoạt, phù hợp với bán đấu giá tài sản của tổ chức, cá nhân tự nguyện xử lý tài sản của mình bằng hình thức đấu giá. Ngoài ra, Luật quy định phương thức bán đấu giá gồm phương thức trả giá lên và phương thức đặt giá xuống.

Bên cạnh đó, Luật quy định cụ thể nội dung của phương thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá (Điều 41), đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá (Điều 42), đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp (Điều 43).

3.7. Biên bản đấu giá, chuyển hồ sơ cuộc đấu giá

Về biên bản đấu giá tài sản, Luật quy định diễn biến của cuộc đấu giá tài sản phải được ghi vào biên bản đấu giá, được lập tại cuộc đấu giá và có chữ ký của đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá, người ghi biên bản, người trúng đấu giá, người có tài sản đấu giá, đại diện của những người tham gia đấu giá. Trong trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện thì biên bản đấu giá còn phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng. Biên bản đấu giá được đóng dấu của tổ chức đấu giá tài sản hoặc đóng dấu của người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng đấu giá tài sản trong trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện (Điều 44).

Luật quy định tổ chức đấu giá tài sản phải ghi kết quả đấu giá tài sản vào Sổ đăng ký đấu giá tài sản và thông báo bằng văn bản cho người có tài sản đấu giá trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá. Trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện thì trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá, Hội đồng thông báo kết quả đấu giá tài sản bằng văn bản cho người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng. Tổ chức đấu giá tài sản hoặc Hội đồng đấu giá tài sản chuyển kết quả đấu giá tài sản, biên bản đấu giá và danh sách người trúng đấu giá cho người có tài sản đấu giá trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá (Điều 45).

3.8. Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, phê duyệt kết quả đấu giá tài sản

Điều 46 của Luật quy định, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được ký kết giữa người có tài sản đấu giá với người trúng đấu giá hoặc giữa người có tài sản đấu giá, người trúng đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản nếu các bên có thỏa thuận. Người trúng đấu giá được coi như chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá kể từ thời điểm đấu giá viên công bố người trúng đấu giá. Kể từ thời điểm này, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật có liên quan. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan.

3.9. Quyền và nghĩa vụ của người có tài sản đấu giá, người trúng đấu giá

Để đảm bảo quyền lợi của người có tài sản đấu giá, Điều 47 của Luật quy định rõ người có tài sản đấu giá có các quyền sau: giám sát quá trình tổ chức thực hiện việc đấu giá; tham dự cuộc đấu giá; yêu cầu tổ chức đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá hoặc yêu cầu đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá dừng cuộc đấu giá hoặc đơn phương chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá vô hiệu theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật về dân sự, các quyền khác theo quy định của pháp luật

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định người có tài sản có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về tài sản đưa ra đấu giá; ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản; giao tài sản và các giấy tờ liên quan đến tài sản đấu giá cho người mua được tài sản đấu giá theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc theo quy định của pháp luật; báo cáo cơ quan có thẩm quyền về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản, diễn biến cuộc đấu giá và kết quả đấu giá tài sản trong trường hợp đấu giá tài sản nhà nước; các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Để đảm bảo quyền lợi người trúng đấu giá, Luật quy định rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của người trúng đấu giá (Điều 48). Theo đó, người trúng đấu giá có các quyền sau đây: yêu cầu người có tài sản đấu giá ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật; được nhận tài sản đấu giá, có quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá theo quy định của pháp luật; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đấu giá đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của pháp luật và các quyền khác theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản. Người trúng đấu giá có nghĩa vụ: ký biên bản đấu giá, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá; thanh toán đầy đủ tiền mua tài sản đấu giá cho người có tài sản đấu giá và các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan.

3.10. Trường hợp đấu giá tài sản chỉ có một người đăng kí tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá

Luật quy định trong trường hợp đấu giá tài sản theo phương thức trả giá lên, khi đã hết hạn đăng ký tham gia mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham gia cuộc đấu giá, hoặc có nhiều người tham gia cuộc đấu giá nhưng chỉ có một người trả giá, hoặc có nhiều người trả giá nhưng chỉ có một người trả giá cao nhất và ít nhất bằng giá khởi điểm thì tài sản được bán cho người đó nếu người có tài sản đấu giá đồng ý bằng văn bản. Trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc có nhiều người đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham gia cuộc đấu giá và chấp nhận giá khởi điểm hoặc chấp nhận mức giá sau khi đã giảm thì tài sản được bán cho người đó nếu người có tài sản đấu giá đồng ý bằng văn bản.

Luật cũng quy định, việc đấu giá tài sản trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá chỉ được tiến hành sau khi đã tổ chức cuộc đấu giá lần đầu nhưng không thành và sau khi đã đầy đủ trình tự, thủ tục đấu giá tài sản theo quy định của Luật này và không có khiếu nại liên quan đến trình tự, thủ tục cho đến ngày tổ chức cuộc đấu giá (Điều 49).

3.11. Rút lại giá đã trả, giá đã chấp nhận, từ chối kết quả trúng đấu giá

Luật quy định tại cuộc đấu giá thực hiện bằng phương thức trả giá lên theo hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói hoặc đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá, nếu người trả giá cao nhất rút lại giá đã trả trước khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá thì cuộc đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người trả giá liền kề trước đó. Tại buổi công bố giá đã trả của người tham gia đấu giá trong trường hợp đấu giá theo hình thức bỏ phiếu gián tiếp, nếu người đã trả giá cáo nhất rút lại giá đã trả trước khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá thì cuộc đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người trả giá liền kề. Đấu giá viên quyết định hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói hoặc đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp. Trong trường hợp cuộc đấu giá thực hiện theo phương thức đặt giá xuống, người chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm mà rút lại giá đã chấp nhận trước khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá thì cuộc đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người xin rút đó (Điều 50).

Luật quy định trong trường hợp đấu giá theo phương thức trả lên, sau khi đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá đã công bố người trúng đấu giá mà tại cuộc đấu giá người này từ chối kết quả trúng đấu giá thì người trả giá liền kề là người trúng đấu giá, nếu giá liền kề đó cộng với khoản tiền đặt trước ít nhất bằng giá đã trả của người từ chối kết quả trúng đấu giá và người trả giá liền kề chấp nhận mua tài sản đấu giá. Trường hợp giá liền kề cộng với khoản tiền đặt trước nhỏ hơn giá đã trả của người từ chối kết quả trúng đấu giá hoặc người trả giá liền kề không chấp nhận mua tài sản đấu giá thì cuộc đấu giá không thành. Trường hợp cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức đặt giá xuống, sau khi đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá công bố người trúng đấu giá mà tại cuộc đấu giá người trúng đấu giá từ chối kết quả trúng đấu giá thì cuộc đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người từ chối kết quả trúng đấu giá. Trường hợp không có người đấu giá tiếp thì cuộc đấu giá không thành.

3.12. Đấu giá không thành

Điều 52 của Luật quy định các trường hợp đấu giá không thành bao gồm: đã hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá; tại cuộc đấu giá không có người trả giá hoặc không có người chấp nhận giá; giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp không công khai giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên; người trúng đấu giá từ chối ký biên bản bán đấu giá theo quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này; người đã trả giá rút lại giá đã trả, người đã chấp nhận giá rút lại giá đã chấp nhận theo quy định tại Điều 50 của Luật này mà không có người trả giá tiếp; trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá theo quy định tại Điều 51 của Luật này; đã hết thời hạn đăng ký mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá trong trường hợp tài sản quy định tại Điều 59 của Luật này.

Luật quy định tổ chức đấu giá tài sản trả lại tài sản, giấy tờ liên quan đến tài sản đấu giá cho người có tài sản đấu giá trong thời gian 03 ngày làm việc kể từ ngày cuộc đấu giá không thành trừ trường hợp, các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

3.13. Đấu giá theo thủ tục rút gọn

Bên cạnh trình tự, thủ tục chung, Điều 53 của Luật quy định trình tự, thủ tục bán đấu giá rút gọn để tạo điều kiện xử lý nhanh, phù hợp với thực tiễn đối với một số trường hợp đặc thù sau đây: đấu giá tài sản thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu mà giá khởi điểm của tất cả tài sản đấu giá trong một cuộc đấu giá dưới 50 triệu đồng hoặc đấu giá lại trong trường hợp đã đấu giá lần thứ hai nhưng vẫn không thành hoặc đấu giá tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Bên cạnh đó, Luật quy định thời gian niêm yết tài sản ít nhất là 03 ngày làm việc đối với tài sản là động sản và 05 ngày làm việc đối với tài sản là bất động sản trước ngày mở cuộc đấu giá; tổ chức bán hồ sơ tham gia đấu giá, tiếp nhận hồ sơ tham gia đấu giá trong giờ hành chính, liên tục kể từ khi niêm yết việc đấu giá tài sản cho đến trước ngày mở cuộc đấu giá 01 ngày.

  1. Đấu giá tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá (Chương IV)

Việc đấu giá các tài sản mà pháp luật quy định phải đấu giá nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản như tài sản để thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, tài sản bảo đảm, tài sản nhà nước. Đối với các loại tài sản này, ngoài các quy định về trình tự, thủ tục chung, việc bán đấu giá còn phải tuân theo các quy định khác, cụ thể:

4.1. Một số quy định chung (Mục 1)

Pháp luật hiện hành về bán đấu giá tài sản chưa có quy định về tiêu chí, cách thức lựa chọn tổ chức đấu giá để thực hiện việc bán đấu giá tài sản. Do đó, trong thực tế, việc lựa chọn tổ chức đấu giá hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người có tài sản dẫn tới hiện tượng có doanh nghiệp “sân sau” trong hoạt động bán đấu giá. Từ thực tế đó, Điều 56 của Luật Đấu giá tài sản quy định về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản như sau: người có tài sản đấu giá thông báo công khai về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản trên trang thông tin điện tử của mình và trang thông tin điện tử chuyên ngành về đấu giá tài sản một số nội dung chính, như: tên, địa chỉ của người có tài sản đấu giá; tên, tài sản, số lượng, chất lượng của tài sản đấu giá; giá khởi điểm của tài sản đấu giá; tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản; thời gian, thời điểm nộp hồ sơ đăng ký tham gia tổ chức đấu giá.

Về tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản, Luật quy định bao gồm: cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết bảo đảm cho việc đấu giá đối với loại tài sản đấu giá; phương án đấu giá khả thi, hiệu quả; năng lực, kinh nghiệm và uy tín của tổ chức đấu giá tài sản; thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản phù hợp; có tên trong danh sách các tổ chức đấu giá tài sản do Bộ Tư pháp công bố và các tiêu chí khác phù hợp với tài sản đấu giá do người có tài sản đấu giá quyết định.

Ngoài ra, Luật còn quy định việc thông báo công khai việc đấu giá tài sản (Điều 57); công khai giá khởi điểm, phương thức đấu giá (Điều 58); tài  sản đấu giá trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá (Điều 59).

4.2. Về Hội đồng đấu giá tài sản (Mục 2)

Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn hoạt động đấu giá trong trường hợp phải thành lập hội đồng đấu giá, Luật quy định việc thành lập, nguyên tắc hoạt động, quyền và nghĩa vụ của Hội đồng đấu giá tài sản, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ tịch, thành viên Hội đồng đấu giá tài sản (từ Điều 60 đến Điều 63) nhằm thực hiện việc đấu giá công khai, khách quan, minh bạch. Theo đó, Luật quy định chặt chẽ việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Hội đồng đấu giá tài sản. Người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Hội đồng. Hội đồng bao gồm 03 thành viên trở lên; chủ tịch Hội đồng là người có tài sản đấu giá hoặc người được ủy quyền; thành viên của Hội đồng là đại diện cơ quan tài chính, cơ quan tư pháp cùng cấp, đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật; hội đồng đấu giá tài sản có thể ký hợp đồng với tổ chức đấu giá tài sản để cử đấu giá viên điều hành cuộc đấu giá. Hội đồng đấu giá tài sản làm việc theo nguyên tắc tập trung, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số thông qua biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín; chủ tịch hội đồng có quyền quyết định cuối cùng khi kết quả biểu quyết hoặc số phiếu bằng nhau.

Luật quy định cụ thể quyền của Hội đồng đấu giá tài sản, bao gồm: truất quyền tham gia cuộc đấu giá và lập biên bản xử lý đối với người tham gia đấu giá có hành vi gây rối trật tự cuộc đấu giá, thông đồng, móc nối để dìm giá hoặc hành vi khác làm ảnh hưởng đến tính khách quan, trung thực của cuộc đấu giá; dừng cuộc đấu giá và báo cáo người có thẩm quyền quyết định thành lập hội đồng để xử lý khi phát hiện có hành vi vi phạm trình tự, thủ tục đấu giá hoặc khi phát hiện người điều hành cuộc đấu giá có hành vi thông đồng, móc nối để dìm giá hoặc hành vi khác làm ảnh hưởng đến tính khách quan, trung thực của cuộc đấu giá; đề nghị định giá, giám định tài sản đấu giá; lựa chọn hình thức đấu giá quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này để đấu giá tài sản; các quyền khác theo quy định của pháp luật. Hội đồng đấu giá tài sản có các nghĩa vụ sau đây: nghĩa vụ theo quy định tại điểm b và điểm d khoản 2 Điều 24 của Luật này; ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng đấu giá tài sản; tổ chức và thực hiện đấu giá theo Quy chế hoạt động của Hội đồng, Quy chế cuộc đấu giá và quy định của pháp luật có liên quan; chịu trách nhiệm về kết quả cuộc đấu giá trước pháp luật và người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình đấu giá; tiếp nhận, giải quyết theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng giải quyết khiếu nại phát sinh sau cuộc đấu giá; bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; báo cáo người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng đấu giá tài sản về kết quả đấu giá tài sản; các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Quyền và nghĩa vụ của chủ tịch, thành viên Hội đồng được thực hiện theo quy định của Luật đấu giá tài sản nhằm đảm bảo thực hiện việc đấu giá công khai, khách quan, minh bạch.

4.3. Đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu (Mục 3)

Luật hóa các quy định của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, Điều 64 của Luật Đấu giá tài sản quy định tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng chỉ được đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu quy định tại điểm o khoản 1 Điều 4 của Luật này. Trong trường hợp nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được bán đấu giá thì tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản hoặc tự đấu giá tài sản theo trình tự, thủ tục quy định của Luật Đấu giá tài sản.

Để đảm bảo việc thực hiện đấu giá của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng công khai, minh bạch, khách quan, đúng pháp luật, Luật Đấu giá tài sản quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ cũng như các hành vi bị nghiêm cấm đối với tổ chức này trong hoạt động đấu giá tài sản (Điều 65). Ngoài ra, Luật còn quy định các hành vi bị nghiêm cấm của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng, bao gồm: thông đồng, móc nối với người tham gia đấu giá, tổ chức thẩm định giá, giám định tài sản đấu giá, cá nhân, tổ chức khác để làm sai lệch thông tin, tài sản đấu giá, hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản; cản trở, gây khó khăn cho người tham gia đấu giá trong việc mua hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá, đăng ký tham gia đấu giá, tham gia cuộc đấu giá, giao, nhận tài sản đấu giá; nhận bất kỳ một khoản tiền, tài sản hoặc lợi ích nào từ người tham gia đấu giá ngoài chi phí đấu giá, chi phí dịch vụ khác liên quan đến tài sản đấu giá theo quy định của pháp luật; các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật có liên quan. Bên cạnh đó, Luật giao Chính phủ quy định chi tiết việc thẩm định giá khởi điểm của khoản nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu; việc thành lập hội đồng đấu giá nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đối với khoản nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có giá trị lớn.

  1. Thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản (Chương V)

Để đảm bảo phù hợp với bản chất của dịch vụ đấu giá tài sản là hoạt động dịch vụ vận hành theo cơ chế thị trường, Luật Đấu giá tài sản quy định thù lao dịch vụ đấu giá thay cho phí dịch vụ đấu giá tài sản. Theo đó, thù lao dịch vụ đấu giá được xác định theo cơ chế giá dịch vụ thị trường do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, để tránh thất thoát tài sản của nhà nước, đảm bảo quyền lợi của người thế chấp tài sản, người phải thi hành án, đối với việc đấu giá tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá thì thù lao dịch vụ đấu giá được xác định theo cơ chế giá dịch vụ theo khung do Bộ Tài chính quy định (Điều 66). Cùng đó, Điều 67 của Luật Đấu giá tài sản quy định trong trường hợp tổ chức, cá nhân có yêu cầu và được tổ chức đấu giá tài sản cung cấp dịch vụ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, quản lý tài sản và dịch vụ khác liên quan đến tài sản đấu giá thì phải trả chi phí dịch vụ cho tổ chức đấu giá tài sản theo thỏa thuận giữa các bên. Bên cạnh đó, việc quản lý, sử dụng thù lao đấu giá, chi phí đấu giá tài sản, chi phí dịch vụ và các khoản thu khác của Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu. Việc quản lý, sử dụng thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản, chi phí dịch vụ và các khoản thu khác của doanh nghiệp đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định pháp luật (Điều 68).

  1. Xử lý vi phạm, hủy kết quả đấu giá tài sản, bồi thường thiệt hại (Chương VII)

6.1. Về xử lý vi phạm

Luật quy định việc xử lý vi phạm đối với đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản, hội đồng đấu giá tài sản, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng (Điều 69); đối với người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, cá nhân, tổ chức có liên quan (Điều 70); đối với người có tài sản đấu giá (Điều 71).

6.2. Về hủy kết quả đấu giá và hậu quả pháp lý

Xuất phát từ kết quả bán đấu giá được hình thành dựa trên hợp đồng dịch vụ bán đấu giá, hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng dân sự được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật về dân sự, Luật quy định các trường hợp hủy kết quả đấu giá tài sản (Điều 72). Theo đó, Luật cũng quy định hậu quả pháp lý khi hủy kết quả đấu giá tài sản trong trường hợp theo quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 72 của Luật thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 73).

6.3. Về việc giải quyết tranh chấp; khiếu nại, khởi kiện về việc đấu giá tài sản của Hội đồng đấu giá tài sản; tố cáo về hoạt động đấu giá tài sản

Luật quy định trong trường hợp có tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá thì các bên có thể thương lượng, hòa giải hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật (Điều 74). Người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của hội đồng đấu giá tài sản, thành viên hội đồng đấu giá tài sản khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình; người có thẩm quyền quyết định thành lập hội đồng đấu giá tài sản có trách nhiệm giải quyết khiếu nại trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại; trường hợp hết thời hạn quy định này mà không được giải quyết khiếu nại hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền quyết định thành lập hội đồng đấu giá tài sản thì người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật (Điều 75).

Đối với việc tố cáo về hoạt động đấu giá tài sản, công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm quy định về hoạt động đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật. Việc giải quyết tố cáo trong hoạt động đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo (Điều 76).

  1. Quản lý nhà nước về đấu giá tài sản (Chương VII)

Luật đấu giá tài sản quy định Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đấu giá tài sản (Điều 77); trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc phối hợp với Bộ Tư pháp trong công tác quản lý nhà nước về đấu giá tài sản, trách nhiệm của Bộ Tài chính trong việc hướng dẫn về chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá tài sản (Điều 78); trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước về đấu giá tài sản tại địa phương; giao Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về đấu giá tài sản, trong đó Sở Tư pháp có nhiệm vụ mới là thực hiện việc đăng ký hoạt động cho các doanh nghiệp đấu giá tài sản (Điều 79).

  1. Điều khoản thi hành (Chương VIII)

Điều khoản thi hành được quy định tại Chương VIII của Luật, bao gồm quy định chuyển tiếp (Điều 80) và hiệu lực thi hành (Điều 81). Theo đó, Luật quy định chứng chỉ hành nghề đấu giá được cấp theo quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ – CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản có giá trị sử dụng. Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, doanh nghiệp đấu giá tài sản thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà tiếp tục hoạt động đấu giá tài sản thì phải đáp ứng quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này và thực hiện đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp theo quy định tại Điều 25 của Luật này; nếu không đáp ứng quy định này, doanh nghiệp đó phải chấm dứt hoạt động đấu giá tài sản. Đối với trường hợp đấu giá tài sản mà hợp đồng bán đấu giá tài sản đã được ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực nhưng chưa thực hiện việc niêm yết, thông báo công khai thì trình tự, thủ tục niêm yết, thông báo công khai và việc tổ chức đấu giá tài sản được áp dụng theo quy định của Luật này. Trường hợp đấu giá tài sản mà pháp luật quy định do hội đồng đấu giá tài sản thực hiện và đã thành lập hội đồng nhưng chưa thực hiện việc niêm yết, thông báo công khai thì hội đồng đấu giá tài sản áp dụng trình tự, thủ tục đấu giá và các quy định khác có liên quan của Luật này để thực hiện việc đấu giá tài sản. Việc thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản; chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về phí dịch vụ đấu giá tài sản, phí tham gia đấu giá tài sản, chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá tài sản cho đến ngày 01/7/2017.

Luật đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2017, riêng khoản 4 Điều 80 của Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017./.

 

Tiêu Dao