Những nội dung cơ bản của Luật Du lịch năm 2017

5731

Tại Kỳ họp thứ 2, Kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIV đã thông qua 15 luật, trong đó có Luật Du lịch năm 2017 liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Công an nhân dân và công tác đảm bảo an ninh, trật tự.

 

Ảnh minh họa.

 

Cổng TTĐT Công an Quảng Bình xin giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật Du lịch năm 2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

Luật Du lịch năm 2017 có 09 chương, 78 điều, giảm 2 chương, 10 điều so với Luật Du lịch năm 2005 với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung nhằm thúc đẩy du lịch phát triển; nâng cao chất lượng hoạt động du lịch; tạo điều kiện thuận lợi, môi trường cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp du lịch; tăng cường tính chuyên nghiệp của hoạt động hướng dẫn; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách du lịch, cụ thể:

Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

So với Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017, quy định bao quát, rộng hơn về phạm vi điều chỉnh. Đảm bảo quy định đầy đủ các nhóm quan hệ xã hội và lĩnh vực du lịch mà Luật điều chỉnh cụ thể như sau: Luật Du lịch năm 2017 quy định về tài nguyên du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và hoạt động du lịch; quyền, nghĩa vụ của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, cộng đồng dân cư có hoạt động liên quan đến du lịch; quản lý nhà nước về du lịch.

Về đối tượng áp dụng (Điều 2)

Điều này sửa đổi Điều 2 Luật Du lịch năm 2005, sắp xếp lại quy định về đối tượng áp dụng, bổ sung quy định về hoạt động du lịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoạt động du lịch ở nước ngoài. Việc sửa đổi bổ sung điều này để phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế về du lịch và đáp ứng thực tế ngày càng có nhiều người Việt Nam ra nước ngoài du lịch.

Về giải thích từ ngữ (Điều 3)

Điều này sửa đổi nội dung giải thích các từ ngữ: Du lịch, Khách du lịch, tài nguyên du lịch, sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, chương trình du lịch, hướng dẫn du lịch, cơ sở lưu trú du lịch, xúc tiến du lịch, du lịch bền vững, du lịch sinh thái, môi trường du lịch, du lịch văn hóa. Nội dung giải thích từ ngữ này được sửa đổi để đảm bảo sự rõ ràng, chính xác và phù hợp với quy định của Tổ chức du lịch thế giới, thông lệ quốc tế, tạo sự dễ hiểu, minh bạch khi thực hiện.

Bỏ giải thích các từ ngữ: Tham quan, đô thị du lịch, tuyến du lịch, dịch vụ du lịch, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, phương tiện chuyên vận chuyển khách du lịch, lữ hành. Những từ ngữ này không được đưa vào phần quy định ở những chương kế tiếp hoặc trong quá trình thi hành Luật những từ ngữ này được đa số chủ thể hiểu thống nhất, không sai lệch.

Bổ sung giải thích các từ ngữ: Hướng dẫn viên du lịch, du lịch cộng đồng vì những từ ngữ này phát sinh trong quá trình thi hành Luật cần được giải thích để các chủ thể hiểu, thống nhất áp dụng. Theo đó, Hướng dẫn viên du lịch là người được cấp thẻ để hành nghề hướng dẫn du lịch; du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi.

Về nguyên tắc phát triển du lịch (Điều 4)

Điều này xây dựng trên cơ sở Điều 5 Luật Du lịch năm 2005, từ 6 khoản được thiết kế thành 5 khoản nhưng được viết khái quát hơn thể hiện các quan điểm, định hướng phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước thành các nguyên tắc, theo đó, nguyên tắc phát triển du lịch được quy định như sau: (1). Phát triển du lịch bền vững, theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm. (2). Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế của từng địa phương và tăng cường liên kết vùng. (3). Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. (4). Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch. (5). Phát triển đồng thời du lịch nội địa và du lịch quốc tế; tôn trọng và đối xử bình đẳng đối với khách du lịch.

Về chính sách phát triển du lịch (Điều 5)

Điều 5 Luật Du lịch năm 2017 sửa đổ, bổ sung Điều 6 Luật Du lịch năm 2005, theo đó loại bỏ những chính sách phát triển du lịch không còn phù hợp, không tương thích với quy định của Luật Đầu tư 2014 như: Chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vào một số lĩnh vực. Đồng thời quy định Nhà nước ưu tiên bố trí kinh phí cho các hoạt động Điều tra, đánh giá, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch; lập quy hoạch về du lịch; xúc tiến du lịch, xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia, địa phương; xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch. Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các hoạt động: Đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch chất lượng cao; nghiên cứu, định hướng phát triển sản phẩm du lịch; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch; đầu tư phát triển sản phẩm du lịch mới có tác động tích cực tới môi trường, thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư; đầu tư phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và sản phẩm du lịch đặc thù khác; ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại phục vụ quản lý và phát triển du lịch; phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch; sử dụng nhân lực du lịch tại địa phương; đầu tư hình thành khu dịch vụ du lịch phức hợp, có quy mô lớn; hệ thống cửa hàng miễn thuế, trung tâm mua sắm phục vụ khách du lịch.

Về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch (Điều 6)

Trên cơ sở nội dung cơ bản quy định tại Điều 7 Luật Du lịch năm 2005, Điều 6 Luật Du lịch năm 2017 quy định theo nhóm quyền và nghĩa vụ, đồng thời, chỉnh từ ngữ cho rõ nghĩa, bảo đảm rõ ràng và chính xác hơn.

Về tổ chức xã hội – nghề nghiệp về du lịch (Điều 7)

Luật Du lịch năm 2017 bổ sung điều quy định về tổ chức xã hội – nghề nghiệp về du lịch, cụ thể như sau: (1). Tổ chức xã hội – nghề nghiệp về du lịch được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hội. (2). Tổ chức xã hội – nghề nghiệp về du lịch có trách nhiệm sau đây: tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; tham gia xây dựng, phổ biến, giáo dục, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật, chính sách về du lịch; tham gia xúc tiến du lịch, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về du lịch; đánh giá, tư vấn, thẩm định tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, chất lượng dịch vụ cho doanh nghiệp và lao động trong ngành du lịch; xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh cho các hội viên; huy động các nguồn lực xã hội để triển khai hoạt động du lịch theo quy định của pháp luật; tổ chức triển khai việc thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp, vận động hội viên kinh doanh du lịch bảo đảm chất lượng dịch vụ; phát hiện và kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về du lịch, bảo vệ môi trường.

Về bảo vệ môi trường du lịch (Điều 8)

Điều này xây dựng trên cơ sở kế thừa Điều 9 Luật Du lịch năm 2005, tuy nhiên có chỉnh lý từ ngữ cho rõ nghĩa và chính xác hơn, theo đó Điều 8 Luật Du lịch năm 2017 quy định như sau: (1). Môi trường du lịch phải được bảo vệ, tôn tạo và phát triển theo hướng xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh. (2). Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, ban hành quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch. (3). Chính quyền địa phương các cấp có biện pháp bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương. (4). Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình gây ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong hoạt động kinh doanh của mình. (5). Khách du lịch, cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và du lịch Việt Nam.

– Về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động du lịch (Điều 9)

Nội dung này được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định tại Điều 12 Luật Du lịch năm 2005, thiết kế từ 8 khoản thành 9 khoản. Luật Du lịch năm 2017 bổ sung quy định nghiêm cấm hành vi lợi dụng hoạt động du lịch để đưa người từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam trái pháp luật; hành nghề hướng dẫn du lịch khi không đủ điều kiện hành nghề, đồng thời bổ sung một khoản về các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật khác có liên quan.

– Luật Du lịch năm 2017 bỏ quy định về áp dụng pháp luật về du lịch quy định tại Điều 3 Luật Du lịch năm 2005 vì nội dung này đã được quy định trong Luật Điều ước quốc tế 2016.

  1. Khách du lịch (Chương II)

Quy định về khách du lịch được chuyển từ Chương V Luật Du lịch năm 2005 lên Chương II Luật Du lịch năm 2017 thể hiện tính nhân văn của hệ thống pháp luật Nhà nước ta đối với hoạt động du lịch – ngành kinh tế phục vụ con người, vì vậy quy định về khách du lịch được đặt ở vị trí quan trọng trong Luật.

Về các loại khách du lịch (Điều 10)

Điều này sửa đổi, bổ sung trên cơ sở quy định tại Điều 34 Luật Du lịch năm 2005, tuy nhiên nếu Luật Du lịch năm 2005 chỉ quy định Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế thì Luật Du lịch năm 2017 đã tách khách du lịch quốc tế thành 02 loại là khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài, theo đó, Luật Du lịch năm 2017 quy định 03 loại khách du lịch gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài. Việc sửa đổi như trên làm cơ sở cho việc đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách, đồng thời làm cơ sở phân loại, quản lý hoạt động kinh doanh lữ hành, hành nghề hướng dẫn du lịch và phục vụ công tác thống kê.

Về quyền của khách du lịch (Điều 11), nghĩa vụ của khách du lịch (Điều 12), bảo đảm an toàn cho khách du lịch (Điều 13) về cơ bản giữ nguyên các nội dung được quy định tại các Điều 35, 36, 37 Luật Du lịch năm 2005, tuy nhiên chỉnh lý từ ngữ cho rõ nghĩa và chính xác hơn.

Về giải quyết kiến nghị của khách du lịch (Điều 14)

Điều này xây dựng trên cơ sở Điều 86 Luật Du lịch 2005, đưa về cùng nhóm quan hệ xã hội được điều chỉnh trong Luật Du lịch năm 2017. Luật Du lịch năm 2017 sửa đổi bổ sung theo hướng đã phân công trách nhiệm cho cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết kịp thời kiến nghị của khách du lịch cụ thể như sau: (1). Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, quản lý khu du lịch, điểm du lịch tổ chức tiếp nhận và giải quyết kịp thời kiến nghị của khách du lịch trong phạm vi quản lý; (2). Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tổ chức tiếp nhận, giải quyết kiến nghị của khách du lịch trên địa bàn. (3). Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tiếp nhận, giải quyết hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết kiến nghị của khách du lịch.

  1. Tài nguyên du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và quy hoạch về du lịch (Chương III)

3.1. Tài nguyên du lịch (mục 1)

Về các loại tài nguyên du lịch (Điều 15)

Điều này xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định của Điều 13 Luật Du lịch năm 2005, được cơ cấu lại rõ hơn về 02 loại tài nguyên du lịch gồm: Tài nguyên du lịch tự nhiên và Tài nguyên du lịch văn hóa đồng thời bỏ quy định không phù hợp về sở hữu tài nguyên du lịch quy định “Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân” tại khoản 2 Điều 13 Luật Du lịch năm 2005.

Về điều tra tài nguyên du lịch (Điều 16)

Điều này xây dựng trên cơ sở Điều 14 Du lịch năm 2005, chỉnh lý từ ngữ bảo đảm rõ nghĩa và chính xác hơn đồng thời bổ sung nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này.

Về trách nhiệm quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch (Điều 17).

Kế thừa các quy định tại Điều 16 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 bổ sung nội dung khẳng định Nhà nước có chính sách quản lý, bảo vệ, tôn tạo, khai thác hợp lý, phát huy giá trị tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước để phát triển du lịch bền vững, đồng thời sắp xếp lại quy định rõ hơn về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch cho phù hợp.

– Luật Du lịch năm 2017 bỏ nội dung quy định về Nguyên tắc bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch tại Điều 15 Luật Du lịch năm 2005 vì đã được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường.

3.2. Phát triển sản phẩm du lịch (mục 2)

Về xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch (Điều 18)

Đây là quy định mới của Luật Du lịch năm 2017, quy định riêng về việc xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch, cụ thể như sau: (1). Tổ chức, cá nhân có quyền sáng tạo, phát triển, kinh doanh các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và phù hợp với quy định của pháp luật. (2). Chính phủ có chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm du lịch chủ đạo đối với từng vùng và trong phạm vi toàn quốc theo từng giai đoạn, đáp ứng nhu cầu của thị trường trên cơ sở đánh giá, phân loại tài nguyên du lịch. (3). Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm an toàn cho khách du lịch đối với những sản phẩm du lịch có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của khách du lịch.

Về phát triển du lịch cộng đồng (Điều 19)

Đây là quy định mới của Luật Du lịch 2017, quy định về phát triển du lịch cộng đồng, cụ thể như sau: (1). Cá nhân, hộ gia đình nơi phát triển du lịch cộng đồng được ưu đãi, khuyến khích cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống; hướng dẫn khách du lịch tham quan, trải nghiệm văn hóa, nếp sống tại cộng đồng; sản xuất hàng hóa, hàng thủ công truyền thống và các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch. (2). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức nghiên cứu, khảo sát, lựa chọn địa điểm có tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng; có chính sách hỗ trợ về trang thiết bị cần thiết ban đầu và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phục vụ khách du lịch cho cá nhân, hộ gia đình trong cộng đồng tham gia cung cấp dịch vụ du lịch; hỗ trợ xúc tiến sản phẩm du lịch cộng đồng. (3). Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát triển du lịch cộng đồng tổ chức tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của cộng đồng; chủ trì xây dựng cam kết của cộng đồng nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường, ứng xử văn minh đối với khách du lịch. (4). Tổ chức, cá nhân khai thác, phát triển du lịch cộng đồng có trách nhiệm tôn trọng văn hóa, nếp sống và chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch với cộng đồng.

3.2. Quy hoạch về du lịch (mục 3)

Về nguyên tắc lập quy hoạch về du lịch (Điều 20) và nội dung quy hoạch về du lịch (Điều 21) được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định của Điều 18 và Điều 19 Luật Du lịch năm 2005, tuy nhiên có sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung cho phù hợp với Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch và Luật Bảo vệ môi trường.

 Luật Du lịch năm 2017 cũng bỏ các quy định về thẩm quyền lập, phê duyệt, quyết định quy hoạch phát triển du lịch và quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển du lịch tại các Điều 20 và Điều 21 Luật Du lịch năm 2005, đồng thời Luật Du lịch năm 2017 bổ sung quy định về lập, quản lý và thực hiện quy hoạch về du lịch tại Điều 22, cụ thể như sau: (1). Việc lập quy hoạch về du lịch phải tuân thủ nguyên tắc, nội dung lập quy hoạch về du lịch quy định tại Điều 20 và Điều 21 của Luật Du lịch năm 2017 và quy định khác của pháp luật có liên quan. (2). Chính phủ quy định việc lập, quản lý và thực hiện quy hoạch về du lịch.

  1. Điểm du lịch, khu du lịch (Chương IV)

Chương IV Luật Du lịch năm 2017 được xây dựng trên cơ sở Chương IV Luật Du lịch năm 2005, trong quá trình thực hiện các nội dung này của Luật Du lịch năm 2005 có một số khó khăn, bất cập như sau:

Việc xác định các tiêu chí đánh giá, xếp loại các khu, điểm du lịch còn mang tính chủ quan, định tính; thiếu các tiêu chí định lượng, do vậy việc xác định ranh giới giữa khu du lịch quốc gia và khu du lịch địa phương, cũng như giữa điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch địa phương còn bất cập. Việc phân loại khu, điểm du lịch quốc gia và địa phương đã tạo ra xu thế nhiều tỉnh, thành phố đề nghị nâng cấp các khu, điểm du lịch của mình trở thành khu, điểm du lịch quốc gia.

Tuyến du lịch, thực chất là các tuyến giao thông (đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy) nối liền các khu, điểm du lịch. Trong thực tế, việc tiếp cận các khu, điểm du lịch bằng nhiều cách khác nhau, các doanh nghiệp du lịch tổ chức, xây dựng các tuyến du lịch linh hoạt, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Vì vậy, không cần thiết quy định tuyến du lịch trong Luật Du lịch năm 2017. Về đô thị du lịch, hiện nay chưa có tiêu chí đánh giá  để công nhận và xếp loại đô thị du lịch, vì vậy việc công nhận, xếp hạng đô thị du lịch trong thực tiễn chưa mang lại hiệu quả. Bên cạnh đó, đô thị nói chung (bao gồm đô thị du lịch) đã được quy định trong Luật Quy hoạch, Luật Đô thị.

Với những bất cập và hạn chế nêu trên, Luật Du lịch năm 2017 đã bỏ một số nội dung không còn phù hợp tại một số điều của Luật Du lịch năm 2005, cụ thể: quy định về Khu du lịch địa phương, Tuyến du lịch và Đô thị du lịch. Ngoài ra, kế thừa các quy định của Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định về điều kiện công nhận điểm du lịch tại Điều 23; hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận điểm du lịch tại Điều 24; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân quản lý điểm du lịch tại Điều 25; điều kiện công nhận khu du lịch tại Điều 26; hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận khu du lịch cấp tỉnh tại Điều 27; hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận khu du lịch quốc gia tại Điều 28; quản lý khu du lịch tại Điều 29.

  1. Kinh doanh du lịch (Chương V)

So với Chương VI của Luật Du lịch năm 2005 về kinh doanh du lịch, Chương V của Luật Du lịch năm 2017 đã được thiết kế lại, bỏ mục quy định chung về kinh doanh du lịch, theo đó, bỏ Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 41 Luật Du lịch năm 2005. Chương V Luật Du lịch năm 2017 quy định như sau:

5.1. Dịch vụ lữ hành (mục 1)

Về phạm vi kinh doanh dịch vụ lữ hành (Điều 30)

Kế thừa các quy định của Điều 43 và Điều 47 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định phạm vi kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau: (1). Kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa phục vụ khách du lịch nội địa. (2). Kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài. (3). Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế được kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế và dịch vụ lữ hành nội địa, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 30 Luật Du lịch năm 2017. (4). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành (Điều 31)

Trên cơ sở các quy định của Luật Đầu tư, Điều 43 và Điều 46 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định cụ thể về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa, điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, chuyên nghiệp hóa hoạt động kinh doanh lữ hành bằng việc quy định về trình độ chuyên môn của người phụ trách hoạt động kinh doanh lữ hành, bỏ quy định doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành phải có hợp đồng lao động với 03 hướng dẫn viên có thẻ vì quy định này trên thực tế chỉ mang tính hình thức, số lượng hướng dẫn viên phụ thuộc vào thị trường, có tính mùa vụ. Luật Du lịch năm 2017 quy định doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Du lịch năm 2017 được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa; đáp ứng các điều kiện kinh doanh quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật Du lịch năm 2017 được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế. Phí thẩm định cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa được thực hiện theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Ngoài ra Luật Du lịch năm 2017 cũng giao Chính phủ quy định chi tiết về việc ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 31 Luật Du lịch năm 2017; Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành; nội dung đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thi, cấp chứng chỉ nghiệp vụ điều hành du lịch nội địa và nghiệp vụ điều hành du lịch quốc tế.

Về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa (Điều 32)

So với Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 đã chú trọng hơn đến việc đảm bảo chất lượng dịch vụ du lịch thông qua việc quy định cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa, cụ thể Luật Du lịch năm 2017 quy định: (1). Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa bao gồm: đơn đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Giấy chứng nhận ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành; bản sao có chứng thực quyết định bổ nhiệm hoặc hợp đồng lao động giữa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành với người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành; bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ của người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quy định tại điểm c khoản 1 Điều 31 của Luật. (2). Trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa được quy định như sau: Doanh nghiệp đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở; Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh thẩm định và cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa cho doanh nghiệp; trường hợp từ chối, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. (3). Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa.

Về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế (Điều 33)

Kế thừa quy định của Điều 48 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định: (1). Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế bao gồm: đơn đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; giấy chứng nhận ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành; bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ của người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quy định tại điểm c khoản 2 Điều 31 của Luật này; bản sao có chứng thực quyết định bổ nhiệm hoặc hợp đồng lao động giữa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành với người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành. (2). Trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế được quy định như sau: Doanh nghiệp đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế nộp 01 bộ hồ sơ đến Tổng cục Du lịch; trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Tổng cục Du lịch thẩm định, cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế cho doanh nghiệp và thông báo cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở; trường hợp từ chối, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. (3). Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế.

Về cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành (Điều 34)

Luật Du lịch năm 2005 không có quy định về việc cấp lại giấy phép kinh doanh lữ hành. Việc bổ sung nội dung này vào Luật Du lịch năm 2017 để đảm bảo công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bị mất hoặc hư hỏng giấy phép. Điều này được thiết kế thành 2 khoản, quy định như sau: (1). Doanh nghiệp đề nghị cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành trong trường hợp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành bị mất hoặc bị hư hỏng. (2). Trình tự, thủ tục cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành được quy định như sau: Doanh nghiệp gửi đơn đề nghị cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép có trách nhiệm cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành cho doanh nghiệp; trường hợp từ chối, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Tổng cục Du lịch thông báo cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở khi cấp lại Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế.

Về cấp đổi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành (Điều 35)

Điều này được xây dựng trên cơ sở Điều 49 Luật Du lịch năm 2005, trong đó điểm mới đáng chú ý nhất là cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính từ 10 ngày làm việc xuống 5 ngày làm việc, cụ thể điểm b khoản 3 Điều 35 Luật Du lịch năm 2017 quy định: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép có trách nhiệm cấp đổi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành cho doanh nghiệp; trường hợp từ chối, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do”.

Về thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành (Điều 36)

Điều này được xây dựng mới trên cơ sở quy định của Điều 12, khoản 3 Điều 47 Luật Du lịch năm 2005, thiết kế thành 3 khoản quy định 08 trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành, cụ thể: “1. Doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành trong các trường hợp sau đây: a) Chấm dứt hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành, giải thể hoặc phá sản; b) Không đáp ứng một trong các điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này; c) Không đổi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Luật này; d) Làm phương hại đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh; đ) Lợi dụng hoạt động du lịch để đưa người từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam trái pháp luật; e) Cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành của doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh; g) Không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 37 của Luật này, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách du lịch; h) Giả mạo hồ sơ đề nghị cấp, cấp đổi, cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành. 2. Doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này chỉ được đề nghị cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành sau 06 tháng kể từ ngày quyết định thu hồi giấy phép có hiệu lực. Doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định tại các điểm d, đ, e, g và h khoản 1 Điều này chỉ được đề nghị cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành sau 12 tháng kể từ ngày quyết định thu hồi giấy phép có hiệu lực. 3. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trình tự, thủ tục thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành”.

– Trên cơ sở các kế thừa các quy định của Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 sửa đổi, bổ sung và quy định các nội dung về Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành tại Điều 37; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ lữ hành tại Điều 38; hợp đồng lữ hành tại Điều 39; kinh doanh đại lý lữ hành tại Điều 40; hợp đồng đại lý lữ hành tại Điều 41; trách nhiệm của đại lý lữ hành tại Điều 43; văn phòng đại diện tại Việt Nam của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nước ngoài tại Điều 44. Tuy nhiên, nội dung quy định trách nhiệm của bên giao đại lý lữ hành Điều 42 được giữ nguyên theo quy định của Điều 55 của Luật Du lịch năm 2005.

5.2. Vận tải khách du lịch (mục 2)

– Luật Du lịch năm 2017 đã sửa đổi từ ngữ “kinh doanh vận chuyển khách du lịch” quy định tại Luật Du lịch năm 2005 thành “kinh doanh vận tải khách du lịch” để phù hợp với quy định tại Luật Giao thông đường bộ, đồng thời bỏ 01 điều quy định về điều kiện kinh doanh vận chuyển khách du lịch (Điều 58 Luật Du lịch năm 2005), tuy nhiên trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 57, 58 Luật Du lịch năm 2005, Điều 45 Luật Du lịch năm 2017 quy định: (1). Kinh doanh vận tải khách du lịch là việc cung cấp dịch vụ vận tải đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt, đường bộ chuyên phục vụ khách du lịch theo chương trình du lịch, tại khu du lịch, điểm du lịch. (2). Tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải khách du lịch quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Du lịch năm 2017 phải đáp ứng điều kiện kinh doanh vận tải; quy chuẩn kỹ thuật, bảo vệ môi trường của phương tiện vận tải; điều kiện của người điều khiển phương tiện vận tải, nhân viên phục vụ, trang thiết bị, chất lượng dịch vụ trên từng loại phương tiện vận tải theo quy định của pháp luật. (3). Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định điều kiện của người điều khiển phương tiện, nhân viên phục vụ, trang thiết bị, chất lượng dịch vụ trên phương tiện vận tải khách du lịch sau khi có ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

– Trên cơ sở kế thừa quy định của Điều 59, Điều 60 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định về cấp biển hiệu phương tiện vận tải khách du lịch tại Điều 46 và Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải khách du lịch tại Điều 47.

5.3. Lưu trú du lịch (mục 3)

Về các loại cơ sở lưu trú du lịch (Điều 48)

Luật Du lịch năm 2017 đã bỏ quy định về Làng du lịch quy định tại Điều 62 Luật Du lịch năm 2005, vì trên thực tế Làng du lịch chỉ tồn tại theo cách đặt tên mà không đúng bản chất, nhu cầu xây dựng và phát triển ít; bổ sung quy định về Tàu thủy lưu trú du lịch, loại hình lưu trú đang phát triển tại các khu du lịch biển, cần quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh phát triển.

Về điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch (Điều 49)

Điều này xây dựng trên cơ sở Điều 64 Luật Du lịch năm 2005, được chỉnh lý, sắp xếp lại quy định theo hướng đơn giản hơn, dẫn chiếu đến các quy định khác của pháp luật về điều kiện an ninh, trật tự an toàn, phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; bỏ quy định về các điều kiện cụ thể vì những điều kiện này không còn phù hợp với thực tế phát triển hiện nay, hơn nữa, nhiều điều kiện đã được chi tiết hóa trong tiêu chuẩn thẩm định, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch (Điều 50)

Điều này xây dựng trên cơ sở Điều 63 Luật Du lịch năm 2005, thiết kế từ 5 khoản thành 8 khoản. Trên tinh thần cải cách, tháo gỡ rào cản, trao quyền chủ động cho cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch được tự nguyện đăng ký xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sửa đổi quy định chỉ xếp hạng đối với một số loại hình cơ sở lưu trú du lịch phổ biến, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng phục vụ khách du lịch. Theo đó, cơ sở lưu trú du lịch gồm khách sạn, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch được xếp hạng theo tiêu chuẩn quốc gia về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch. Hạng cơ sở lưu trú du lịch bao gồm 01 sao, 02 sao, 03 sao, 04 sao và 05 sao.

+ Về thẩm quyền công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch: Từ thực tiễn công tác quản lý cơ sở lưu trú du lịch; theo đề xuất của nhiều địa phương, doanh nghiệp, điều này sửa đổi, mở rộng phân cấp thẩm quyền cho cơ quan quản lý du lịch ở địa phương thẩm định, công nhận cơ sở lưu trú du lịch hạng 1 sao, hạng 2 sao, hạng 3 sao, đây là điểm mới của Luật Du lịch năm 2017, bởi vì Luật Du lịch năm 2005 quy định thẩm định, công nhận hạng 3 sao thuộc thẩm quyền của Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương.

+ Luật Du lịch năm 2017 cũng bổ sung quy định mới về hồ sơ đăng ký công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch và trình tự, thủ tục công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch được quy định như sau để tạo sự minh bạch, rõ ràng trong thẩm định, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch. Hồ sơ đăng ký công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: Đơn đề nghị công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; bản tự đánh giá chất lượng của cơ sở lưu trú du lịch theo quy định trong tiêu chuẩn quốc gia về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch; danh sách người quản lý và nhân viên trong cơ sở lưu trú du lịch; bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ và giấy chứng nhận thời gian làm việc trong lĩnh vực du lịch của người quản lý, trưởng bộ phận trong cơ sở lưu trú du lịch. Trình tự, thủ tục công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch được quy định như sau: Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 50 Luật Du lịch năm 2017. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ yêu cầu sửa đổi, bổ sung; trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chủ trì, phối hợp với tổ chức xã hội – nghề nghiệp về du lịch thẩm định và ra quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch; trường hợp không công nhận, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Một trong những điểm mới của nội dung này là quy định “Quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch có thời hạn 05 năm”, trong khi đó khoản 5 Điều 63 Luật Du lịch năm 2005 quy định: “Sau ba năm được xếp hạng, cơ sở lưu trú du lịch được thẩm định để công nhận lại hạng phù hợp với thực trạng cơ sở vật chất và dịch vụ của cơ sở lưu trú du lịch”. Ngoài ra Luật Du lịch năm 2017 cũng quy định biển công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch được gắn ở khu vực cửa chính của cơ sở lưu trú du lịch cho phù hợp với thực tiễn công tác quản lý cơ sở lưu trú du lịch, đồng thời giao Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu biển công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch.

Về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch (Điều 53)

Kế thừa các quy định của Điều 66 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định: (1). Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch có quyền từ chối tiếp nhận khách du lịch có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy của cơ sở lưu trú du lịch hoặc khi cơ sở lưu trú du lịch không còn khả năng đáp ứng yêu cầu của khách du lịch; hủy bỏ hợp đồng cung cấp dịch vụ đối với khách du lịch có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy của cơ sở lưu trú du lịch. (2). Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch có nghĩa vụ  bảo đảm duy trì điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch theo quy định tại khoản 1 Điều 49 của Luật Du lịch năm 2017; niêm yết công khai giá bán hàng hóa và dịch vụ, nội quy của cơ sở lưu trú du lịch; bồi thường thiệt hại cho khách du lịch theo quy định của pháp luật về dân sự; thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi có cơ sở lưu trú du lịch khi có sự thay đổi về tên cơ sở, quy mô, địa chỉ, người đại diện theo pháp luật; chỉ được sử dụng từ “sao” hoặc hình ảnh ngôi sao để quảng cáo về hạng cơ sở lưu trú du lịch sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, kế toán theo quy định của pháp luật. (3). Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch đã được công nhận hạng có quyền Quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 53 Luật Du lịch năm 2017; treo biển công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch và quảng cáo đúng với loại, hạng đã được công nhận; duy trì chất lượng của cơ sở lưu trú du lịch theo đúng loại, hạng đã được công nhận.

– Luật Du lịch năm 2017 bỏ quy định về tổ chức, cá nhân kinh doanh lưu trú du lịch quy định tại Điều 61 Luật Du lịch năm 2005 điều này nhằm tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh lưu trú du lịch; đồng thời, bổ sung nội dung mới về công bố, kiểm tra chất lượng cơ sở lưu trú du lịch tại Điều 51 và thu hồi quyết định công nhận hạng, thay đổi hạng cơ sở lưu trú du lịch tại Điều 52.

5.4. Dịch vụ du lịch khác (mục 4)

Mục này được xây dựng trên cơ sở quy định của Mục 6 về kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch, Chương VI Luật Du lịch năm 2005, tuy nhiên có sửa đổi, bổ sung về cơ bản, cụ thể như sau:

– Quy định về các loại dịch vụ du lịch khác (Điều 54), đây là quy định mới, theo đó, các loại dịch vụ khác gồm: Dịch vụ ăn uống; dịch vụ mua sắm; dịch vụ thể thao; dịch vụ vui chơi, giải trí, dịch vụ chăm sóc sức khỏe; dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch, những dịch vụ này giữ vai trò quan trọng trong việc tăng độ hấp dẫn của sản phẩm du lịch, kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi của khách du lịch, theo đó Luật Du lịch năm 2017 cũng bổ sung nội dung quy định về phát triển các loại dịch vụ du lịch khác tại Điều 55.

– Điều 56 Luật Du lịch năm 2017 quy định về công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch như sau: (1). Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch khác được tự nguyện đăng ký công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. (2). Hồ sơ đăng ký công nhận bao gồm: Đơn đề nghị theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; bản thuyết minh đáp ứng các tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch. (3). Trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận được quy định như sau: Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch khác nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi đặt cơ sở kinh doanh; trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh thẩm định và công nhận; trường hợp không công nhận, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. (4). Phí thẩm định công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch được thực hiện theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. (5). Quyết định công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch có thời hạn 03 năm. Sau khi hết thời hạn, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch khác có nhu cầu đăng ký công nhận lại cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 56 Luật Du lịch năm 2017. (6). Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thanh tra, kiểm tra chất lượng cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đã được công nhận đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch trên địa bàn; thu hồi quyết định công nhận trong trường hợp cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch không bảo đảm các tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch theo quy định của pháp luật. (7). Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành tiêu chuẩn và mẫu biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác.

– Theo Điều 57 Luật Du lịch năm 2017 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác được công nhận đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch có quyền và nghĩa vụ như sau: (1). Được đưa vào cơ sở dữ liệu xúc tiến du lịch quốc gia. (2). Được ưu tiên tham gia các hoạt động xúc tiến du lịch do cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương và địa phương tổ chức. (3). Được treo biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch và sử dụng danh hiệu này để quảng cáo, thu hút khách du lịch. (4). Phải bảo đảm điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan trong suốt quá trình kinh doanh.

  1. Hướng dẫn viên du lịch (Chương VI)

Về Hướng dẫn viên du lịch, thẻ Hướng dẫn viên du lịch (Điều 58)

Luật Du lịch năm 2017 quy định Hướng dẫn viên du lịch bao gồm Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, Hướng dẫn viên du lịch nội địa và Hướng dẫn viên du lịch tại điểm, như vậy so với Luật Du lịch năm 2005 đã bỏ quy định về thuyết minh viên thay bằng Hướng dẫn viên du lịch tại điểm. Phạm vi hành nghề của Hướng dẫn viên du lịch cũng có những sửa đổi bổ sung so với Luật Du lịch năm 2005 cụ thể quy định như sau: Hướng dẫn viên du lịch quốc tế được hướng dẫn cho khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong phạm vi toàn quốc và đưa khách du lịch ra nước ngoài; Hướng dẫn viên du lịch nội địa được hướng dẫn cho khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam trong phạm vi toàn quốc; Hướng dẫn viên du lịch tại điểm được hướng dẫn cho khách du lịch trong phạm vi khu du lịch, điểm du lịch. Điều kiện hành nghề của Hướng dẫn viên du lịch được quy định chặt chẽ nhưng vẫn đảm bảo tính linh hoạt nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động hành nghề hướng dẫn.

Luật Du lịch năm 2017 quy định về thẻ Hướng dẫn viên du lịch bao gồm thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa và thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm. Thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế và thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa có thời hạn 05 năm, trong khi đó Luật Du lịch năm 2005 quy định thẻ hướng dẫn viên nội địa, thẻ hướng dẫn viên quốc tế có thời hạn 03 năm. Ngoài ra Luật Du lịch năm 2017 cũng bổ sung quy định người đề nghị cấp thẻ phải nộp phí thẩm định cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

Về điều kiện cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch (Điều 59)

Luật Du lịch năm 2017 quy định cụ thể về điều kiện cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa, điều kiện cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, điều kiện cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm trong đó điểm mới nổi bật là điều kiện về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Hướng dẫn viên du lịch quốc tế được điều chỉnh từ trình độ cử nhân thành trình độ cao đẳng để phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

Về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa (Điều 60)

Kế thừa quy định của Điều 74 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định (1). Hồ sơ đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa bao gồm: Đơn đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; sơ yếu lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú; bản sao có chứng thực các văn bằng, chứng chỉ tương ứng với điều kiện quy định tại điểm d khoản 1 hoặc điểm b và điểm c khoản 2 Điều 59 của Luật Du lịch năm 2017; giấy chứng nhận sức khỏe do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền cấp trong thời hạn không quá 06 tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ; 02 ảnh chân dung màu cỡ 3cm x 4cm. (2). Trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa được quy định như sau: Người đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh; trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch cho người đề nghị; trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm (Điều 61)

Luật Du lịch năm 2017 quy định: (1). Hồ sơ đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm bao gồm: Đơn đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; giấy tờ quy định tại các điểm b, d và đ khoản 1 Điều 60 của Luật Du lịch năm 2017. (2). Trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm được quy định như sau: Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh định kỳ hằng năm công bố kế hoạch tổ chức kiểm tra nghiệp vụ hướng dẫn du lịch tại điểm; người đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh; cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh tổ chức kiểm tra và cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm đối với người đã đạt yêu cầu kiểm tra nghiệp vụ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có kết quả kiểm tra.

Về quyền và nghĩa vụ của Hướng dẫn viên du lịch (Điều 65)

Kế thừa các quy đinh của Điều 76 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định: (1). Hướng dẫn viên du lịch có quyền sau đây: Tham gia tổ chức xã hội – nghề nghiệp về hướng dẫn du lịch; nhận tiền lương và khoản thù lao khác theo hợp đồng; tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề hướng dẫn du lịch; trong trường hợp khẩn cấp hoặc bất khả kháng, được quyền thay đổi chương trình du lịch, điều chỉnh tiêu chuẩn, dịch vụ của khách du lịch. (2). Hướng dẫn viên du lịch có nghĩa vụ sau đây: Hướng dẫn khách du lịch theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng hướng dẫn; tuân thủ, hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật Việt Nam, pháp luật nơi đến du lịch, nội quy nơi đến tham quan; tôn trọng phong tục, tập quán của địa phương; thông tin cho khách du lịch về chương trình du lịch, dịch vụ và các quyền, lợi ích hợp pháp của khách du lịch; hướng dẫn khách du lịch theo đúng chương trình du lịch, có thái độ văn minh, tận tình và chu đáo với khách du lịch; báo cáo người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quyết định thay đổi chương trình du lịch trong trường hợp khách du lịch có yêu cầu; có trách nhiệm hỗ trợ trong việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách du lịch; tham gia khóa cập nhật kiến thức theo quy định tại khoản 4 Điều 62 của Luật này; đeo thẻ Hướng dẫn viên du lịch trong khi hành nghề hướng dẫn du lịch; Hướng dẫn viên du lịch quốc tế và Hướng dẫn viên du lịch nội địa phải mang theo giấy tờ phân công nhiệm vụ của doanh nghiệp tổ chức chương trình du lịch và chương trình du lịch bằng tiếng Việt trong khi hành nghề. Trường hợp hướng dẫn khách du lịch quốc tế thì Hướng dẫn viên du lịch phải mang theo chương trình du lịch bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài.

Về trách nhiệm quản lý Hướng dẫn viên du lịch (Điều 66)

Đây là nội dung mới của Luật Du lịch năm 2017, theo đó Luật quy định: (1). Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra hoạt động cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn du lịch và hoạt động hướng dẫn du lịch trên phạm vi toàn quốc. (2). Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn du lịch và hoạt động hướng dẫn du lịch trên địa bàn. (3). Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hướng dẫn du lịch có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động của Hướng dẫn viên du lịch trong việc tuân thủ pháp luật và hợp đồng đã ký với doanh nghiệp và bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề hướng dẫn du lịch.

– Kế thừa các quy định của Điều 75 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định về cấp đổi thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại Điều 62, cấp lại thẻ Hướng dẫn viên du lịch Điều 63; thu hồi thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại Điều 64. Trong đó có một số điểm mới nổi bật là đã rút ngắn thời gian cấp đổi thẻ và cấp lại thẻ Hướng dẫn viên du lịch khi nhận được hồ sơ hợp lệ từ 15 ngày xuống 10 ngày; bổ sung quy định thu hồi thẻ Hướng dẫn viên du lịch trong trường hợp không bảo đảm điều kiện hành nghề, điều kiện cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch theo quy định của Luật Du lịch năm 2017; tăng thời gian xem xét cấp thẻ mới từ 6 tháng thành 12 tháng kể từ ngày bị thu hồi thẻ.

  1. Xúc tiến du lịch, quỹ hỗ trợ phát triển du lịch (Chương VII)

7.1. Xúc tiến du lịch (mục 1)

Về Nội dung xúc tiến du lịch (Điều 67), kế thừa các quy định của Điều 79 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 bổ sung nội dung xây dựng, phát triển thương hiệu du lịch quốc gia, vùng, địa phương, doanh nghiệp.

Về hoạt động xúc tiến du lịch (Điều 68), kế thừa các quy định của Điều 81, Điều 82 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định:  (1). Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch quốc gia; điều phối các hoạt động xúc tiến du lịch liên vùng, liên tỉnh. (2). Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch theo lĩnh vực và địa bàn quản lý phù hợp với chiến lược, kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch quốc gia. (3). Tổ chức xã hội – nghề nghiệp về du lịch, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân liên quan chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch trong nước và nước ngoài phù hợp với chiến lược, kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch quốc gia, thành lập văn phòng xúc tiến du lịch tại nước ngoài. Chi phí hoạt động xúc tiến du lịch của doanh nghiệp được hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp.

Về thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan du lịch nước ngoài, tổ chức du lịch quốc tế và khu vực (Điều 69)

Điều này quy định mới trên cơ sở cụ thể hóa quy định tại khoản 2 Điều 84 Luật Du lịch năm 2005, cụ thể quy định: (1). Cơ quan du lịch nước ngoài, tổ chức du lịch quốc tế và khu vực được thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. (2). Hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng đại diện phải được hợp pháp hóa lãnh sự, bao gồm: Đơn đề nghị thành lập văn phòng đại diện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; quyết định thành lập cơ quan du lịch nước ngoài, tổ chức du lịch quốc tế và khu vực; quyết định thành lập văn phòng đại diện của cơ quan du lịch nước ngoài, tổ chức du lịch quốc tế và khu vực; quyết định bổ nhiệm người đứng đầu văn phòng đại diện. (3). Trình tự, thủ tục thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam được quy định như sau: Người đứng đầu văn phòng đại diện nộp 01 bộ hồ sơ đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông báo bằng văn bản cho người đứng đầu văn phòng đại diện.

7.2. Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch (mục 2)

Nội dung này được quy định mới trên cơ sở cụ thể hóa quy định tại khoản 6 Điều 6 Luật Du lịch năm 2005, đây là nội dung bổ sung quan trọng, tạo cơ sở pháp lý và đảm bảo tính khả thi trong việc thành lập Quỹ trong thời gian tới. Việc thành lập Quỹ sẽ tạo ra nguồn kinh phí lớn hơn cho các hoạt động xúc tiến du lịch, tạo cơ chế chủ động hơn trong việc quản lý, sử dụng kinh phí này, cụ thể Luật Du lịch năm 2017 quy định như sau:

Về thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, Điều 70 Luật Du lịch năm 2017 quy định: (1). Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng, do Thủ tướng Chính phủ thành lập, phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động (2). Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. (3). Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch được hình thành từ các nguồn sau đây: Vốn điều lệ do ngân sách nhà nước cấp; ngân sách nhà nước bổ sung hằng năm một phần trích từ nguồn thu phí tham quan, phí cấp thị thực và các giấy tờ có liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam cho người nước ngoài; nguồn tài trợ, đóng góp tự nguyện, hợp pháp của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. (4). Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 70 Luật Du lịch năm 2017 .

Về mục đích của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, Điều 71 Luật Du lịch năm 2017 quy định: (1). Xúc tiến du lịch trong nước và nước ngoài. (2). Hỗ trợ nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm du lịch. (3). Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực du lịch. (4). Hỗ trợ hoạt động truyền thông du lịch trong cộng đồng.

– Về nguyên tắc hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, Điều 72 Luật Du lịch năm 2017 quy định: (1). Không vì mục đích lợi nhuận; bảo toàn vốn điều lệ và tự bù đắp chi phí quản lý. (2). Thực hiện thu, chi, quyết toán, công khai tài chính, tài sản và công tác kế toán theo quy định của pháp luật. (3). Chịu sự kiểm tra, thanh tra, kiểm toán của cơ quan quản lý nhà nước về tài chính và kiểm toán nhà nước về các hoạt động tài chính của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch. (4). Bảo đảm công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả, sử dụng đúng mục đích và phù hợp với quy định của pháp luật. (5). Số dư kinh phí năm trước của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng.

  1. Quản lý nhà nước về du lịch (Chương VIII)

Trên cơ sở các quy đinh của Điều 11 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017 quy định về quản lý nhà nước về du lịch thành một chương riêng trong đó quy định cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch của Chính phủ tại Điều 73 trong đó có trách nhiệm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan tại Điều 74 và của Ủy ban nhân dân các cấp tại Điều 75.

  1. Điều khoản thi hành (Chương IX)

Về sửa đổi, bổ sung Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13: Điều 76 Luật Du lịch năm 2017 quy định về sửa đổi, bổ sung Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13, theo đó, sửa đổi, bổ sung mục 3.1 và mục 3.2 thuộc phần VII – Phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch trong Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13.

Về hiệu lực thi hành: Điều 77 Luật Du lịch năm 2017 quy định Luật Du lịch năm 2017 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018; Luật Du lịch năm 2015 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Du lịch năm 2017 có hiệu lực thi hành.

Về quy định chuyển: Điều 78 Luật Du lịch năm 2017 quy định: (1). Doanh nghiệp đã được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành không phải làm thủ tục đổi giấy phép, nhưng phải bảo đảm đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Du lịch năm 2017 trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Luật Du lịch năm 2017 có hiệu lực thi hành. (2). Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa phải làm thủ tục đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Sau thời hạn trên, nếu không có giấy phép thì doanh nghiệp không được kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa. (3). Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, Hướng dẫn viên du lịch nội địa đã được cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch trước ngày Luật Du lịch năm 2017 có hiệu lực thi hành được tiếp tục hành nghề cho đến hết thời hạn ghi trên thẻ. (4). Cơ sở lưu trú du lịch đã được công nhận hạng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày Luật Du lịch năm 2017 có hiệu lực được tiếp tục sử dụng hạng đã được công nhận cho đến hết thời hạn theo quyết định./.

 

Tiêu Dao