Những nội dung cơ bản của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

243

Tại Kỳ họp thứ 2, Kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIV đã thông qua 15 luật, trong đó có Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Công an nhân dân và công tác đảm bảo an ninh, trật tự.

 

Ảnh minh họa.

 

Cổng TTĐT Công an Quảng Bình xin giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

Luật TNBTCNN năm 2017 gồm 09 chương, 78 điều, cụ thể như sau:

  1. Những quy định chung (Chương I)

1.1. Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Luật TNBTCNN năm 2017 quy định về trách nhiệm bồi thường của nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường; phục hồi danh dự; kinh phí bồi thường; trách nhiệm hoàn trả; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước.

1.2. Đối tượng được bồi thường (Điều 2)

Luật TNBTCNN năm 2017 quy định đối tượng được bồi thường là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định tại Luật này.

1.3. Về nguyên tắc bồi thường Nhà nước (Điều 4)

Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung 01 điều về nguyên tắc bồi thường và giải quyết bồi thường Nhà nước. Về cơ bản, nguyên tắc bồi thường được kế thừa như quy định của Luật TNBTCNN năm 2009. Theo đó, việc giải quyết bồi thường được giải quyết tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; được kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Luật TNBTCNN năm 2009 đã mở rộng nguyên tắc giải quyết bồi thường, cho phép người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra tòa án khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự; kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự tại Tòa án đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự (khoản 4 Điều 4). Người bị thiệt hại có quyền lựa chọn cơ chế giải quyết bồi thường phù hợp nhưng khi cơ quan giải quyết bồi thường đã thụ lý yêu cầu bồi thường thì người đó không được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết bồi thường. Luật TNBTCNN năm 2017 không quy định kết hợp giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết khiếu nại.

1.4. Quyền yêu cầu bồi thường (Điều 5)

So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung quy định về quyền yêu cầu bồi thường đối với người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại; người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật dân sự; cá nhân, pháp nhân được những người quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 5 ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.

1.5. Thời hiệu yêu cầu bồi thường (Điều 6)

So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường. Theo đó, thời hiệu yêu cầu bồi thường được quy định là 3 năm so với 2 năm trong Luật TNBTCNN năm 2009 (khoản 1 Điều 6). Quy định này được sửa đổi nhằm phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là 3 năm. Luật cũng quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính được xác định theo thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính (khoản 2 Điều 6) để phù hợp với quy định về các cơ chế giải quyết bồi thường tại Điều 4 của Luật, trong đó có cơ chế giải quyết bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính; bổ sung quy định về khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường (khoản 3 Điều 6) và nghĩa vụ chứng minh của người yêu cầu bồi thường đối với khoảng thời gian không tính vào thời hiệu (khoản 4 Điều 6).

1.6. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Điều 7)

So với Luật TNBTCNN năm 2009, quy định về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong Luật TNBTCNN năm 2017 đã được chỉnh lý kỹ thuật để bảo đảm rõ ràng hơn và phù hợp với những điểm sửa đổi, bổ sung mới khác trong Luật. Theo đó, Luật đã bổ sung căn cứ “mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại” (điểm c khoản 1 Điều 7). Việc Luật bổ sung quy định này nhằm làm rõ hơn các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; sửa đổi toàn diện quy định về căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 6 Luật TNBTCNN năm 2009 và căn cứ  tại điểm a khoản 2 Điều 6 Luật TNBTCNN năm 2009 thành: “Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng quy định tại khoản 2 Điều này” (điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 7) nhằm quy định rõ các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật tương ứng với các cơ chế giải quyết bồi thường đã được quy định tại Điều 4 về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước.

1.7. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường

So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung 05 điều quy định cụ thể về các văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong các hoạt động: quản lý hành chính (Điều 8); tố tụng hình sự (Điều 9); tố tụng dân sự, tố tụng hành chính (Điều 10); thi hành án hình sự (Điều 11); thi hành án dân sự (Điều 12). Đây là các quy định được luật hóa từ các Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn Luật TNBTCNN năm 2009 đã được thi hành ổn định trên thực tiễn, được xây dựng trên cơ sở rà soát, đối chiếu với quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, tố tụng, thi hành án và xử lý kỷ luật công chức hiện hành đang có hiệu lực (như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014…) theo hướng, chỉ quy định liệt kê những văn bản đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hoặc có nội dung xác định trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.

1.8. Quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ gây thiệt hại, trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường và các hành vi bị nghiêm cấm

Luật TNBTCNN năm 2017 kế thừa các quy định của Luật TNBTCNN 2009, đồng thời chỉnh lý, bổ sung một số quyền và nghĩa vụ của: người yêu cầu bồi thường (Điều 13), người thi hành công vụ gây thiệt hại (Điều 14); trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường (Điều 15) cho phù hợp với những quy định mới khác được bổ sung trong Luật.

Đối với các hành vi bị nghiêm cấm, so với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã kế thừa có chọn lọc, đồng thời, quy định bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm cho phù hợp với quy định về phạm vi điều chỉnh của Luật. Theo đó, Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung thêm hành vi không thực hiện việc xác định trách nhiệm hoàn trả hoặc không xem xét, xử lý kỷ luật người thi hành công vụ gây thiệt hại và hành vi sách nhiễu, cản trở hoạt động giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 16).

  1. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Chương II)

So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực để bảo đảm phù hợp với Hiến pháp năm 2013, các bộ luật, luật hiện hành; đồng thời cũng bảo đảm quyền, lợi ích của công dân, cụ thể như sau:

2.1. Trong hoạt động quản lý hành chính (Điều 17)

So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung 02 trường hợp được bồi thường do bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính trái pháp luật (điểm b, c khoản 3 Điều 17); 01 trường hợp được bồi thường do bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật “giáo dục tại xã, phường, thị trấn” (khoản 5 Điều 17).

Việc bổ sung trường hợp này là bởi, Luật Khiếu nại năm  2011 và Luật Tố tụng hành chính năm 2010 (nay là Luật Tố tụng hành chính năm 2015) đã mở rộng phạm vi khiếu nại và phạm vi khởi kiện vụ án hành chính, trong đó, bao gồm cả xử lý kỷ luật công chức “công chức giữ chức vụ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật” (khoản 2 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015), về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại “được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm; được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật” (điểm i khoản 1 Điều 12 Luật Khiếu nại năm 2011). Thực tiễn trong hơn 6 năm thi hành Luật TNBTCNN năm 2009 cũng cho thấy, đã phát sinh nhiều vụ việc yêu cầu bồi thường, giải quyết yêu cầu bồi thường do xử lý kỷ luật với hình thức buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức mà các trường hợp này còn chưa có sự thống nhất trong nhận thức cũng như trong áp dụng pháp luật để giải quyết yêu cầu bồi thường. Bên cạnh đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là một trong những biện pháp xử lý hành chính.

2.2. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

So với Luật TNBTCNN năm 2009, về cơ bản Luật TNBTCNN năm 2017 giữ nguyên quy định về các trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015… Tuy nhiên, để phù hợp với quy định mới của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật hình sự năm 2015 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung 02 trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự và bổ sung 01 trường hợp Nhà nước không bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự. Các trường hợp được bồi thường mà Luật bổ sung ở Điều 18, bao gồm: (1). Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. (2). Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được pháp nhân đã thực hiện tội phạm và pháp nhân đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Luật TNBTCNN năm 2017 cũng kế thừa các quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự; quy định cụ thể trường hợp bồi thường “ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cơ quan có thẩm quyền kết luận là trái pháp luật mà người ra bản án, quyết định đó bị xử lý kỷ luật, xử lý trách nhiệm hình sự” (khoản 5 Điều 19); cụ thể hóa nội dung làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc bằng các hành vi cụ thể (khoản 6 Điều 19); bổ sung 01 trường hợp được bồi thường là không thực hiện quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù (điểm d khoản 3 Điều 20). Luật TNBTCNN năm 2017 bỏ quy định về lỗi cố ý đối với trường hợp ra các quyết định về thi hành án và các trường hợp tổ chức thi hành án các quyết định về thi hành án (Điều 21).

  1. Thiệt hại được bồi thường

Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung toàn diện các quy định về thiệt hại được bồi thường nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thời gian qua, đồng thời bảo đảm việc giải quyết bồi thường nhanh chóng, hiệu quả, cụ thể:

3.1. Xác định thiệt hại

Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung 01 điều về việc xác định thiệt hại. Theo đó, Điều 22 quy định: (1). Thiệt hại được bồi thường là thiệt hại thực tế đã phát sinh, các khoản lãi quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Luật này và chi phí khác quy định tại Điều 28 của Luật này. (2). Giá trị thiệt hại được bồi thường được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường quy định tại Điều 43 của Luật này hoặc tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị thiệt hại đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 52 và Điều 55 của Luật này. Trường hợp người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này thì giá trị thiệt hại vẫn được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường trước đó. (3). Khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại được bồi thường quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 23, Điều 24, các khoản 1, 2 và 3 Điều 25, các khoản 1, 2, 3 và điểm a khoản 4 Điều 26, khoản 3 Điều 27 của Luật này được tính từ ngày phát sinh thiệt hại thực tế cho đến khi chấm dứt thiệt hại đó. Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

3.2. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết, sức khỏe bị xâm phạm, thiệt hại về tinh thần và các chi phí khác được bồi thường

Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung các thiệt hại được bồi thường phát sinh trong thực tế chưa được Luật TNBTCNN năm 2009 quy định như: căn cứ tính lãi đối với thiệt hại là các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước (khoản 4 Điều 23); thiệt hại được bồi thường là khoản tiền phạt theo thỏa thuận trong giao dịch dân sự, kinh tế do không thực hiện được các giao dịch dân sự, kinh tế (khoản 5 Điều 23); thiệt hại được bồi thường là phần thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (khoản 6 Điều 23); lượng hóa một số thiệt hại được bồi thường như thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (Điều 24); thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết (Điều 25); thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 26).

Điểm mới của Luật TNBTCNN năm 2017 so với Luật TNBTCNN năm 2009 là đã bổ sung quy định về thời điểm để xác định hiện trạng tài sản làm căn cứ tính toán mức bồi thường là thời điểm thiệt hại xảy ra; về thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại không thực hiện được các giao dịch dân sự, kinh tế; về tính mức lãi suất cho phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó, Điều 23 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định trường hợp người bị thiệt hại không thể thực hiện được các giao dịch dân sự, kinh tế đã có hiệu lực và đã phải thanh toán tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự, kinh tế đó thì thiệt hại được xác định là số tiền phạt theo mức phạt đã thỏa thuận và khoản lãi của khoản tiền phạt đó. Trường hợp khoản tiền phạt đó là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính là khoản lãi vay hợp pháp theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Trường hợp khoản tiền phạt đó không phải là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính theo lãi suất phát sinh do chậm trả tiền trong trường hợp không có thỏa thuận theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này. Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì thiệt hại được bồi thường là phần thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.

Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung nhiều quy định mới, cụ thể về thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của cá nhân, tổ chức. Theo đó, Luật đưa ra việc xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công; có thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công; có thu nhập không ổn định theo mùa vụ. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định đối với thu  nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại là tổ chức bao gồm các khoản thu nhập theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp (Điều 24).

Bên cạnh đó, so với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định tăng mức thiệt hại về tinh thần trong một số trường hợp như: áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn (khoản 1 Điều 27); giữ người trong trường hợp khẩn cấp (điểm a khoản 3 Điều 27); công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật (khoản 6 Điều 27). Việc tăng mức bồi thường cho các thiệt hại nêu trên là phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, cũng như bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung 01 điều quy định cụ thể các chi phí khác được bồi thường, bao gồm: chi phí thuê phòng nghỉ, chi phí đi lại, in ấn tài liệu, gửi đơn thư trong quá trình khiếu nại, tố cáo; chi phí thuê người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại; chi phí đi lại để thăm gặp của thân nhân người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người chấp hành án phạt tù trong tố tụng hình sự. Ngoài ra, Luật cũng quy định cách xác định đối với các loại chi phí trên và khoảng thời gian làm căn cứ xác định chi phí được bồi thường quy định tại Điều này được tính từ ngày phát sinh thiệt hại thực tế cho đến ngày có văn bản giải quyết bồi thường có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền (Điều 28).

3.3. Khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác đối với người bị thiệt hại; trả lại tài sản; phục hồi danh dự và các thiệt hại nhà nước không bồi thường

Điều 29 Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện theo hướng quy định chi tiết các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại được nhà nước khôi phục. Bên cạnh đó, Luật sửa đổi quy định về trả lại tài sản (Điều 30) theo hướng, việc trả lại tài sản bị tạm giữ, tịch thu trái pháp luật trong hoạt động quản lý hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trong hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; trong hoạt động tố tụng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Đối với quy định về phục hồi danh dự, Điều 31 Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi theo hướng bổ sung đối tượng phục hồi danh dự. Cụ thể, ngoài cá nhân bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, đối tượng được phục hồi danh dự bổ sung gồm công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật;  người bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc trái pháp luật.

Luật NTBTCNN năm 2017 quy định cụ thể các thiệt hại Nhà nước không bồi thường, bao gồm: thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại; thiệt hại xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người thi hành công vụ đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và trong khả năng cho phép; thiệt hại xảy ra trong hoàn cảnh người thi hành công vụ muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 23 của Luật này. Bên cạnh đó, Luật quy định cụ thể các thiệt hại Nhà nước không bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án dân sự (Điều 32).

  1. Cơ quan giải quyết bồi thường

Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định cụ thể hơn về cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính (Điều 33), tố tụng hình sự (Điều 34, 35, 36), tố tụng dân sự, tố tụng hành chính (Điều 37), thi hành án hình sự (Điều 38) và thi hành án dân sự (Điều 39) và xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp cụ thể (Điều 40). Đồng thời, để bảo đảm phù hợp với nguyên tắc bồi thường của Nhà nước nêu trên, Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung cơ quan giải quyết bồi thường là Tòa án trong trường hợp kết hợp giải quyết bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự.

4.1. Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính

Điều 33 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định về cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính theo hướng:

– Thứ nhất, ở Trung ương: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33; Tổng cục, cục, các đơn vị khác có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc thuộc cơ quan thuộc Chính phủ là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình.

– Thứ hai, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 33. Cơ quan chuyên môn hoặc các cơ quan, đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình. Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình. Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình.

– Thứ ba, Cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo. Cơ quan ra quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức. Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính; Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

4.2. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện kiểm sát; Tòa án giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự

Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định cụ thể, rõ ràng các trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự (Điều 34); Viện kiểm sát giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự (Điều 35); Tòa án giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự (Điều 36).

Riêng đối với các quy định về cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung (trong trường hợp vụ án chưa đến giai đoạn Viện kiểm sát hoàn thành cáo trạng để truy tố) mà sau đó  bị can được đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì Điều 34, 35 đã có quy định để phân định rõ trường hợp nào thì thuộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trường hợp nào thì thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát, cụ thể: (1) Trường hợp Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra bổ sung hoặc hoặc kết luận điều tra mới đề nghị truy tố nhưng Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm thì trách nhiệm giải quyết bồi thường thuộc Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (khoản 3 Điều 34); (2) Trường hợp Viện kiểm sát đã quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng căn cứ kết quả điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì trách nhiệm giải quyết bồi thường thuộc về Viện kiểm sát (khoản 2 Điều 35).

4.3. Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính; thi hành án hình sự; thi hành án dân sự và xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp cụ thể

Đối với hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, Điều 37 của Luật TNBTCNN năm 2017 quy định Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 19 của Luật này là cơ quan giải quyết bồi thường. Theo đó, Luật quy định cụ thể các nguyên tắc xác định các cơ quan giải quyết bồi thường đối với tòa án cấp sơ thẩm; tòa án cấp phúc thẩm; tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; tòa án đã ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 5, 6 Điều 19 của Luật này và Tòa án nhân dân tối cao. Luật quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với hoạt động thi hành án dân sự, Điều 38 của Luật quy định cơ quan thi hành án hình sự các cấp trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với hoạt động thi hành án dân sự, Điều 39 của Luật quy định cơ quan giải quyết bồi thường là Cục thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự; Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương; Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 40 Luật TNBTNN năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung quy định về xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp cụ thể: (1) bổ sung quy định về thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường bị giải thể mà cơ quan đã ra quyết định giải thể là Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và trường hợp không có sự thống nhất về cơ quan giải quyết bồi thường (điểm a và điểm b khoản 1); (2) bổ sung quy định trường hợp người yêu cầu bồi thường đồng thời yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thì cơ quan đã thụ lý yêu cầu bồi thường trước là cơ quan giải quyết bồi thường (khoản 3).

  1. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường

Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện các quy định về thủ tục giải quyết bồi thường nhằm đảm bảo việc giải quyết bồi thường được nhanh chóng, hiệu quả. Cụ thể như sau:

5.1. Giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại

Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung và quy định cụ thể trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại (Mục 1 Chương V) theo hướng sửa đổi toàn diện quy định về hồ sơ yêu cầu bồi thường (Điều 41), theo đó, quy định rõ (1). Hồ sơ trong trường hợp người bị thiệt hại trực tiếp yêu cầu bồi thường (khoản 1), hồ sơ yêu cầu bồi thường trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là người thừa kế hoặc là người đại diện của người bị thiệt hại (khoản 2); (2). Bổ sung quy định về cách thức gửi hồ sơ và giấy tờ, tài liệu gửi kèm tương ứng với từng cách thức gửi hồ sơ (khoản 4 và 5); (3). Bổ sung quy định về việc gửi hồ sơ tới Sở Tư pháp có thẩm quyền trong trường hợp người yêu cầu bồi thường chưa xác định được ngay cơ quan giải quyết bồi thường và trách nhiệm của Sở Tư pháp (khoản 4). Bổ sung 01 điều mới quy định về tiếp nhận và xử lý hồ sơ yêu cầu bồi thường (Điều 42), trong đó quy định rõ trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường khi nhận được hồ sơ và những việc cần làm. Sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường và bổ sung quy định về cử người giải quyết bồi thường (Điều 43), trong đó quy định rõ trách nhiệm thụ lý hồ sơ, các trường hợp không thụ lý hồ sơ, việc cử người giải quyết bồi thường.

Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung 01 điều mới quy định về tạm ứng kinh phí bồi thường (Điều 44). Luật quy định vấn đề này là bởi, thực tiễn đã có nhiều vụ việc mà trong vụ việc đó, một số loại thiệt hại đã rõ ràng, có thể tính toán được ngay để bồi thường trước cho người bị thiệt hại, nhưng cơ quan giải quyết bồi thường không có cơ sở để thực hiện bởi Luật TNBTCNN năm 2009 không quy định. Khắc phục bất cập nêu trên, trong lần sửa đổi này, Luật đã quy định rõ các loại thiệt hại mà người yêu cầu bồi thường có quyền đề nghị tạm ứng, trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường, cơ quan tài chính có thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc tạm ứng và mức tạm ứng (tối thiểu là 50% giá trị các thiệt hại).

Luật TNBTCNN năm 2017 sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về xác minh thiệt hại (Điều 45) và thương lượng việc bồi thường (Điều 46), theo đó, Luật đã rút ngắn thời hạn xác minh thiệt hại so với Luật TNBTCNN năm 2009; bổ sung quy định về thỏa thuận kéo dài thời hạn xác minh thiệt hại giữa người yêu cầu bồi thường với người giải quyết bồi thường (khoản 2 Điều 45); bổ sung quy định về báo cáo xác minh thiệt hại để làm căn cứ thương lượng việc bồi thường (khoản 3 Điều 45); bổ sung quy định về việc tham gia xác minh thiệt hại của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và cơ quan tài chính có thẩm quyền khi có đề nghị của cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp vụ việc phức tạp (khoản 4 Điều 45). Luật cũng đã rút ngắn thời hạn thương lượng việc bồi thường so với Luật TNBTCNN năm 2009; bổ sung quy định về thỏa thuận kéo dài thời hạn thương lượng giữa người yêu cầu bồi thường với người giải quyết bồi thường (khoản 1 Điều 46); bổ sung quy định về nguyên tắc thương lượng (khoản 2 Điều 46); sửa đổi quy định về thành phần thương lượng, trong đó, bổ sung thành phần thương lượng bắt buộc là đại diện cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền; đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, thành phần thương lượng bắt buộc là Viện kiểm sát có thẩm quyền; trường hợp cần thiết thì có thể mời cơ quan tài chính cùng cấp tham gia (khoản 3 Điều 46); bổ sung quy định về nội dung thương lượng (khoản 5 Điều 46); bổ sung quy định về các bước tiến hành thương lượng (khoản 6 Điều 46); bổ sung quy định về biên bản kết quả thương lượng để làm căn cứ thực hiện việc ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc là căn cứ để người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án (khoản 7, 8 Điều 46).

Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện quy định về quyết định giải quyết bồi thường (Điều 47). Theo đó việc ra quyết định giải quyết bồi thường phải được thực hiện ngay sau khi có biên bản kết quả thương lượng thành và quyết định phải được trao tại buổi thương lượng (khoản 1); Luật bổ sung quy định về hậu quả pháp lý của việc người yêu cầu bồi thường không nhận quyết định giải quyết bồi thường (khoản 1).

Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung 04 điều mới quy định về: hủy, sửa chữa, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường (Điều 48), hoãn giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 49), tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 50), đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 51) và hậu quả pháp lý của các trường hợp nêu trên. Việc bổ sung các quy định nêu trên là bởi trên thực tiễn đã phát sinh nhiều trường hợp mà việc giải quyết yêu cầu bồi thường chưa bảo đảm đúng trình tự, thủ tục hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật nhưng Luật TNBTCNN năm 2009 lại chưa có quy định về việc xử lý hậu quả pháp lý của việc ban hành quyết định giải quyết bồi thường trái pháp luật. Mặt khác, trong không ít vụ việc, xuất phát từ yêu cầu của người bị thiệt hại về việc tạm dừng việc giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc do người bị thiệt hại có thái độ bất hợp tác trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc vì lý do khác mà việc giải quyết yêu cầu bồi thường buộc phải tạm dừng hay có đủ căn cứ để chấm dứt. Tuy nhiên, Luật TNBTCNN năm 2009 cũng chưa có quy định về việc hoãn, tạm đình chỉ hay đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường. Điều này khiến cho nhiều vụ việc bị bế tắc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường không thể tiếp tục giải quyết bồi thường mà cũng không thể chấm dứt việc giải quyết yêu cầu bồi thường.

5.2. Giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường, giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại tòa án

Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện các quy định về khởi kiện và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án, trong đó bổ sung quy định người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án yêu cầu bồi thường trong 02 trường hợp: (1). Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu chưa yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường; (2). Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường đã yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý  người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường, nhưng sau đó người này rút đơn trước thời điểm cơ quan này tiến hành xác minh thiệt hại (Điều 52).

Luật TNBTCNN năm 2017 cũng xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường. Theo đó, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của bị đơn theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường trong trường hợp bị đơn là các cơ quan quy định tại khoản 3, 4 Điều 33; khoản 5, 6, 7 Điều 33 ở cấp huyện, xã; cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp huyện. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này (Điều 53). Đối với việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường, Luật quy định cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường cho người yêu cầu bồi thường theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường; cơ quan, tổ chức, người có liên quan phải thực hiện việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác cho người bị thiệt hại theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường (Điều 54). Bên cạnh đó, Luật cũng quy định cụ thể việc giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án (Điều 55).

5.3. Phục hồi danh dự                                                       

Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện quy định về việc phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại. Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung quy định về hình thức phục hồi danh dự (Điều 56), quy định rõ các hình thức phục hồi danh dự tương ứng với từng đối tượng được bồi thường, cụ thể: (1). Đối với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, các hình thức phục hồi danh dự bao gồm: trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai, đăng báo xin lỗi và cải chính công khai (khoản 1 Điều 56); (2). Đối với người bị thiệt hại là cá nhân trong trường hợp bị buộc thôi việc trái pháp luật, bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì được phục hồi danh dự bằng hình thức đăng báo xin lỗi và cải chính công khai (khoản 2 Điều 56).

Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung 01 điều mới quy định về chủ động phục hồi danh dự (Điều 57); bổ sung 01 điều mới quy định về trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai (Điều 58), trong đó, quy định về trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại trong việc tổ chức trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai và thành phần tham dự; bổ sung 01 điều mới quy định về đăng báo xin lỗi và cải chính công khai (Điều 59), trong đó, quy định về trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại trong việc đăng báo xin lỗi và cải chính công khai. Đặc biệt, Điều 59 Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung hình thức đăng trên cổng thông tin điện tử của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại (nếu có) và việc niêm yết công khai tờ báo đăng xin lỗi, cải chính công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại.

  1. Kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả

So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện các quy định về kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả. Cụ thể:

6.1. Về kinh phí bồi thường

So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 quy định rõ Nhà nước có trách nhiệm bố trí một khoản kinh phí trong ngân sách Nhà nước để thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bao gồm tiền chi trả cho người bị thiệt hại; chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại. Kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung ương (đối với các vụ việc do cơ quan giải quyết bồi thường ở trung ương giải quyết) và địa phương (đối với các vụ việc do ủy ban nhân dân các cấp giải quyết). Luật giao cho Bộ Tài chính, Sở Tài chính có trách nhiệm cấp phát kịp thời và đầy đủ kinh phí bồi thường (Điều 60).

6.2. Lập dự toán kinh phí bồi thường

Luật TNBTCNN năm 2017 đã quy định căn cứ thực tế số tiền bồi thường, chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại đã cấp phát của năm trước, Bộ Tài chính và Sở Tài chính lập dự toán kinh phí bồi thường của cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách trung ương và địa phương, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước (Điều 61). Quy định này giúp các cơ quan tài chính biết được tổng thể tình hình chi trả tiền bồi thường của các năm trước làm tiền đề cho việc dự toán ngân sách cho hoạt động này.

6.3. Cấp phát kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường, quyết toán kinh phí bồi thường

Luật TNBTCNN năm 2017 sửa đổi, bổ sung quy định về cấp phát kinh phí và chi trả tiền bồi thường (Điều 62), theo đó bỏ quy định về kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường của cơ quan tài chính có thẩm quyền và của cơ quan chủ quản (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại; quy định chặt chẽ hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường tương ứng với các cơ chế giải quyết bồi thường; bổ sung quyền hạn của cơ quan tài chính có thẩm quyền nếu không đồng ý với mức bồi thường hoặc nếu cho rằng hồ sơ không đáp ứng yêu cầu, cụ thể: (1). Trường hợp có căn cứ rõ ràng cho rằng hồ sơ không đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này hoặc mức bồi thường không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan tài chính có trách nhiệm phối hợp với cơ quan giải quyết bồi thường để hoàn thiện hồ sơ, cấp phát kinh phí bồi thường trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường (khoản 4 Điều 62); (2). Trường hợp có căn cứ rõ ràng cho rằng mức bồi thường trong bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 52 hoặc tại Điều 55 của Luật này không đúng quy định của pháp luật thì cơ quan tài chính kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng (khoản 4 Điều 62); bổ sung quy định về sung quỹ nhà nước nếu người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường trong thời hạn luật định (khoản 6 Điều 62).

Luật TNBTCNN năm 2017 quy định việc quyết toán kinh phí bồi thường được tiến hành sau khi chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm gửi giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc chi trả tiền bồi thường cho cơ quan tài chính đã cấp phát kinh phí để quyết toán theo quy định của pháp luật. Luật giao Bộ Tại chính, Sở Tài chính có trách nhiệm quyết toán kinh phí bồi thường theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước (Điều 63).

 

  1. Về trách nhiệm hoàn trả

Để việc thực hiện trách nhiệm hoàn trả có thể được thực hiện ngay, Chương VII Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi, bổ sung toàn diện quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ nhằm nâng cao trách nhiệm của người thi hành công vụ, đồng thời bảo đảm hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước. Cụ thể:

7.1. Nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ

 Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi quy định về nghĩa vụ hoàn trả của người thi hành công vụ theo hướng bỏ quy định về nghĩa vụ liên đới hoàn trả trong trường hợp có nhiều người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại (Điều 64). Theo đó, Luật quy định: (1). Người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại đều có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại; (2). Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại thì những người đó có nghĩa vụ hoàn trả tương ứng với mức độ lỗi của mình và thiệt hại mà Nhà nước phải bồi thường.

7.2. Xác định mức hoàn trả, giảm mức hoàn trả

Luật TNBTCNN năm 2017 sửa đổi quy định về xác định mức hoàn trả (Điều 65) theo hướng bỏ quy định về căn cứ xác định mức hoàn trả là điều kiện kinh tế của người thi hành công vụ. Quy định tách bạch 02 trường hợp hoàn trả: (1). Trường hợp có 01 người thi hành công vụ gây thiệt hại (khoản 2 Điều 65); (2). Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ cùng gây thiệt hại (khoản 3 Điều 65). Sửa đổi quy định về mức hoàn trả theo hướng tăng mức hoàn trả của người thi hành công vụ (khoản 2 Điều 65), cụ thể: (1). Người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại mà có bản án đã có hiệu lực pháp luật tuyên người đó phạm tội thì phải hoàn trả toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại (điểm a khoản 2); (2). Người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức hoàn trả từ 30 đến 50 tháng lương của người đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả nhưng tối đa là 50% số tiền mà Nhà nước đã bồi thường (điểm b khoản 2); (3). Người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây thiệt hại thì mức hoàn trả từ 03 đến 05 tháng lương của người đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả nhưng tối đa là 50% số tiền mà Nhà nước đã bồi thường (điểm c khoản 2); (4). Trường hợp 50% số tiền Nhà nước đã bồi thường thấp hơn 30 tháng lương quy định tại điểm b khoản này hoặc thấp hơn 03 tháng lương quy định tại điểm c khoản này thì số tiền người thi hành công vụ phải hoàn trả bằng 50% số tiền Nhà nước đã bồi thường (điểm d khoản 2). Bổ sung quy định về giảm mức hoàn trả (khoản 4 Điều 65), theo đó, người thi hành công vụ được giảm mức hoàn trả khi có đủ các điều kiện: chủ động khắc phục hậu quả; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và đã hoàn trả được ít nhất 50% số tiền phải hoàn trả và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Việc giảm mức hoàn trả do Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định và mức giảm tối đa là 30% trên tổng số tiền phải hoàn trả.

7.3. Về thẩm quyền, thủ tục xác định trách nhiệm hoàn trả

Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung, quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác định trách nhiệm hoàn trả (Điều 66) theo hướng tách bạch 02 trường hợp: (1). Đối với trường hợp Nhà nước phải bồi thường đối với thiệt hại xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự và thi hành án hành chính thì Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường ra quyết định hoàn trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại (điểm a khoản 3 Điều 66); (2). Đối với trường hợp Nhà nước phải bồi thường đối với thiệt hại xảy ra trong lĩnh vực tố tụng hình sự thì  Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có thẩm quyền ra quyết định hoàn trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại do mình quản lý và kiến nghị Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan ra quyết định hoàn trả đối với người thi hành công vụ gây thiệt hại do cơ quan đó quản lý (điểm b khoản 3 Điều 66).

7.4. Quyết định hoàn trả và thực hiện việc hoàn trả

 So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi hiệu lực của quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả có hiệu lực kể từ ngày ký. Trong trường hợp quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả không phù hợp với quy định tại Điều 65 và Điều 66 của Luật này thì cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước kiến nghị Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại xem xét lại quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả (Điều 67).

Đối với thực hiện việc hoàn trả (Điều 68), Luật TNBTCNN năm 2017  bổ sung trường hợp người thi hành công vụ phải hoàn trả là người đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi hoặc phụ nữ đang mang thai thì được hoãn việc hoàn trả theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại (khoản 3).

7.5. Trách nhiệm hoàn trả trong một số trường hợp cụ thể

So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung thêm 4 điều, cụ thể:

– Xử lý tiền đã hoàn trả, trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường (Điều 69);

– Trách nhiệm thu tiền hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ chuyển sang cơ quan, tổ chức khác (Điều 70);

– Trách nhiệm thu tiền hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại đã nghỉ hưu, nghỉ việc (Điều 71);

– Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại chết (Điều 72).

Việc bổ sung các điều mới trên là xuất phát từ thực tế qua hơn 6 năm thi hành Luật TNBTCNN năm 2009, nhiều cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong khi chưa có quy định cụ thể. Chính vì vậy, việc bổ sung thêm các quy định này góp phần thực hiện nghiêm túc hơn việc xác định trách nhiệm hoàn trả trên thực tiễn.

  1. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước

Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, Luật TNNTCNN năm 2017 đã bổ sung một chương (Chương VIII) quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường. Cụ thể như sau:

8.1. Trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước

Luật TNBTCNN năm 2017 quy định rõ thẩm quyền thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi cả nước thuộc trách nhiệm của Chính phủ và Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh  thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án tại địa phương; Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước tại địa phương (Điều 73).

8.2. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Luật TNBTCNN năm 2017 quy định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong công tác bồi thường nhà nước. Trong đó, ngoài việc phối hợp với Chính phủ, Bộ Tư pháp trong việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước thì các cơ quan này có trách nhiệm thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể trong công tác bồi thường như: kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác bồi thường nhà nước theo quy định của pháp luật; chỉ đạo cơ quan giải quyết bồi thường thực hiện công tác giải quyết bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả, thực hiện quyết định hoàn trả, thực hiện xử lý kỷ luật theo thẩm quyền; xử lý và chỉ đạo xử lý vi phạm trong việc giải quyết bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả; hằng năm hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, thống kê, báo cáo Chính phủ việc thực hiện công tác bồi thường nhà nước; trả lời, thực hiện kiến nghị của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này (các điều 74, 75).

  1. Điều khoản thi hành

Điều khoản thi hành của Luật TNBTCNN năm 2017 được quy định tại Chương IX, cụ thể:

9.1. Án phí, lệ phí, các loại phí khác và thuế trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường

Về cơ bản, quy định này được giữ nguyên như Luật TNBTCNN năm 2009 nhưng được chỉnh lý lại về nội dung cho rõ ràng hơn. Theo đó, Điều 76 quy định cơ quan giải quyết bồi thường không thu các khoản án phí, lệ phí và các loại phí khác đối với nội dung yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này. Người bị thiệt hại không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với số tiền bồi thường được nhận.

9.2. Hiệu lực thi hành, quy định chuyển tiếp

Về hiệu lực thi hành, Điều 77 Luật quy định: Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018. Luật TNBTCNN số 35/2009/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Về quy định chuyển tiếp, Luật quy định: (1). Các trường hợp yêu cầu bồi thường đã được cơ quan giải quyết bồi thường thụ lý trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết thì tiếp tục áp dụng quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 để giải quyết. (2). Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, các trường hợp được bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN số 35/2009/QH12 mà còn thời hiệu theo quy định của Luật TNBTCNN số 35/2009/QH12 nhưng chưa yêu cầu Nhà nước bồi thường hoặc đã yêu cầu nhưng chưa được thụ lý giải quyết thì áp dụng quy định của Luật này để giải quyết./.

 

Tiêu Dao