Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt theo quy định của BLHS năm 2015

1242

Theo từ điển Tiếng Việt thì “miễn” là không phải thực hiện, không phải thi hành. Miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) và miễn hình phạt là hai chế định thể hiện rõ bản chất nhân đạo của pháp luật nước ta, tuy nhiên các quy định về miễn TNHS và miễn hình phạt của BLHS năm 1999 vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế ảnh hưởng rất lớn đến việc giải quyết vụ án trong thực tiễn. BLHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung về hai chế định miễn TNHS và miễn hình phạt, đồng thời việc phân biệt hai chế định này là rất quan trọng.

 

Ảnh minh họa.

 

1. Miễn trách nhiệm hình sự (TNHS)
Theo quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015 về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự:
1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi có quyết định đại xá.
2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
3. Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”
Một số điểm bổ sung của BLHS năm 2015 so với Bộ luật hình sự năm 1999
Thứ nhất: Bổ sung tình tiết lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
Thứ hai: Bổ sung khoản 3 về những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Quy định về điểm mới của BLHS năm 2015 nhằm mở rộng phạm vi miễn TNHS để hạn chế đến mức thấp nhất việc xử lý bằng biện pháp hình sự đối với người phạm tội, đồng thời thể hiện bản chất nhân đạo của pháp luật nước ta.
So với quy định của BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 phân chia thành 03 trường hợp miễn TNHS bao gồm:
Trường hợp thứ nhất: Tại khoản 1 Điều 29 quy định các trường hợp được miễn TNHS khi có các căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi có quyết định đại xá.
Trường hợp thứ hai: Tại khoản 2 quy định các trường hợp có thể (quy định tùy nghi) được miễn TNHS khi có các căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
Trường hợp thứ ba: Khoản 3 quy định “Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”
Quy định trên của BLHS năm 2015 theo đó tại khoản 1 của điều luật này là căn cứ để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự và quy định tại khoản 2; khoản 3 của điều luật này là những trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
2. Miễn hình phạt
Cơ sở pháp lý theo quy định tại Điều 59 BLHS năm 2015 về miễn hình phạt “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.”
Cũng theo quy định tại Điều 54 BLHS năm 2015 Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
“1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.”
So với quy định của BLHS năm 1999 thì quy định của BLHS năm 2015 có một số điểm mới:
Khi xem xét điều kiện được miễn hình phạt giữa Điều 54 BLHS năm 1999 và Điều 59 BLHS năm 2015 thì điều kiện 2 và điều kiện 3 là giống nhau, nhưng so sánh điều kiện 1 thì Điều 54 BLHS năm 1999 và Điều 59 BLHS năm 2015 có sự khác nhau về nội dung. Theo Điều 54 BLHS năm 1999 thì người bị kết án được miễn hình phạt khi người này có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. Trong khi đó, Điều 59 BLHS năm 2015 thì quy định người phạm tội phải thỏa mãn điều kiện được quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 54 BLHS năm 2015, tức là người phạm tội phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 và phải là người giúp sức phạm tội lần đầu trong vụ án đồng phạm mà có vai trò không đáng kể thì mới được miễn hình phạt.
3. So sánh miễn hình phạt và miễn TNHS trong BLHS năm 2015.
+ Giống nhau.
Đều là chế định phản ánh chính sách khoan hồng, nhân đạo của luật hình sự Việt Nam.
– Không cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện cho họ nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội.
– Đều chỉ áp dụng khi đáp ứng đủ các điều kiện luật định.
– Người được miễn THNHS và miễn hình phạt đều không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc của việc quyết định hình phạt và án tích.
+ Khác nhau.

 

STT MIỄN TNHS MIỄN  HÌNH PHẠT
Khái niệm Miễn trách nhiệm hình sự là việc ko bắt buộc người phạm tội phải chịu TNHS về tội mà họ đã thực hiện Miễn hình phạt là ko buộc người bị kết án phải chịu hình phạt về tội họ đã thực hiện.
Điều kiện + Người phạm tội được miễn TNHS khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi có quyết định đại xá.
+ Người phạm tội có thể được miễn TNHS khi có một trong các căn cứ sau:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
+ Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn TNHS.
Người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại k1,2 Đ54 BLHS năm 2015, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS.
Theo quy định khoản 1,2 Điều 54 “1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.”
Thẩm quyền áp dụng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Tòa án
Hậu quả pháp lý – Không có án tích.
– Có tính khoan hồng cao hơn so với miễn hình phạt.
Có án tích nhưng thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích.
Đối tượng Đối tượng của MTNHS có thể là người đã bị kết án hoặc chưa bị kết án.
 
Người đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.
Các trường hợp được miễn TNHS và miễn hình phạt. – Các TH miễn TNHS bao gồm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Điều 16; người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, gây hại ko lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ…Điều 91; người đã nhận làm gián điệp, nhưng ko thực hiện nhiệm vụ đc giao và tự thú, thành khẩn khai báo Điều 110; người không tố giác có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm khoản 3 Điều 390 tội Miễn hình phạt chỉ đc quy định ở 2 điều luật đó là Điều 59 và khoản 3 Điều 390 tội không tố giác tội phạm.

 

Những sửa đổi, bổ sung về chế định miễn TNHS và miễn hình phạt trong BLHS năm 2015 sẽ khắc phục được những bất cập, hạn chế của BLHS năm 1999, qua đó góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả trong đấu tranh và phòng ngừa tội phạm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay./.

 

Theo Cổng TTĐT Bộ Tư pháp