Quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

663

Quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS năm 2015 là sự thể hiện chính sách xử lý hình sự của Nhà nước đối với người phạm tội, mặt khác để khẳng định trong trường hợp bình thường (không thuộc trường hợp quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015), người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật là người có năng lực trách nhiệm hình sự – là người có đủ điều kiện để có thể có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS.

 

 

Điểm giống nhau ở quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS năm 2015 và quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS năm 1999 là cả hai Bộ luật đều quy định tuổi tối thiểu phải chịu trách nhiệm hình sự là từ đủ 14 tuổi; cả hai Bộ luật đều giới hạn người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm; người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm. Bên cạnh việc kế thừa, phát triển những quy định còn phù hợp này của BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 bổ sung  một số điểm mới trong quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhằm giải quyết những vướng mắc, bất cập đang đặt ra trong thực tiễn xét xử.

Khoản 1 Điều 12 BLHS năm 2015 bổ sung vào sau quy định “Người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm” (khoản 1 Điều 12 BLHS năm 1999) quy định “trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” nhằm tránh “xung đột” giữa quy định của Phần quy định chung với một số quy định của Phần các tội phạm BLHS quy định chủ thể của tội phạm là người đủ 18 tuổi trở lên như tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS năm 2015); tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146  BLHS năm 2015);…và đây chính là “những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”.

Khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 sửa quy định “Người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” (khoản 2 Điều 12 BLHS năm 1999) theo hướng thu hẹp đáng kể số tội danh mà người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thực hiện phải chịu trách nhiệm hình sự và liệt kê các tội cụ thể người trong độ tuổi này phải chịu trách nhiệm hình sự (28/314 tội danh được quy định trong BLHS thuộc 04 nhóm tội phạm: các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm sở hữu; các tội phạm về ma túy; các tội xâm phạm an toàn công cộng). Việc thu hẹp số tội danh và liệt kê các tội cụ thể người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải có trách nhiệm hình sự là sự thay đổi có tính đột phá chính sách hình sự của Nhà nước ta với người phạm tội trong độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi. Việc thay đổi này vừa có cơ sở thực tiễn, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, vừa phù hợp với chính sách xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải “bảo đảm lợi ích tốt nhất và chủ yếu là nhằm mục đích giáo dục…” đối với người dưới 18 tuổi đặc biệt là với người đủ 14 đến dưới 16 tuổi của Nhà nước ta.

Căn cứ quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 có thể khẳng định:

Đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên phạm tội thì phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm: tội cố ý cũng như tội vô ý; tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng trừ những tội phạm mà BLHS quy định chủ thể của tội phạm đó là người đủ 18 tuổi trở lên. Tuy nhiên, người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng chính sách hình sự giảm nhẹ theo những quy định của Chương XII BLHS năm 2015 (xem bình luận Chương XII BLHS năm 2015).

Đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phạm tội chỉ phải  chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại một trong các điều luật đã được giới hạn tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu TNHS đối với hành vi chuẩn bị phạm 02 tội danh được quy định tại Điều 123, 168 BLHS (khoản 3 Điều 14 BLHS năm 2015).

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 và so với quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 1999 cho thấy, BLHS năm 2015 đã thu hẹp đáng kể số tội danh người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS (28/314 tội danh); phải chịu TNHS đối với hành vi chuẩn bị phạm 02/314 tội danh như đã phân tích trên. Việc quy định này dựa trên cơ sở cân nhắc không chỉ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà còn cân nhắc đến cả tính phổ biến của hành vi phạm tội do người trong độ tuổi này thực hiện trong thời gian qua cũng như dự báo trong thời gian tới.

 

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sựvề tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

 

Tiêu Dao