Tìm hiểu “Điều 321. Tội đánh bạc” của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

3403

Hành vi  đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

 

Ảnh minh họa.

 

Điều 321 quy định hai trường hợp phạm tội:

– Trường hợp người phạm tội đã có hành vi đánh bạc trái phép và tiền hay hiện vật đánh bạc có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên.

Hành vi đánh bạc cấu thành  tội phạm khi tiền hay hiện vật đánh bạc của từng lần đánh bạc có trị giá từ 5 triệu đồng trở lên. Tiền hay hiện vật dùng để đánh bạc là những thứ có thể thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc, trong người đánh bạc hoặc nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc.

Phân biệt các trường hợp khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc:

+ Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, trị giá hiện dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, trị giá hiện vật của những người cùng đánh bạc.

+ Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bong đá, cá độ đua ngựa…thì một lần chơi như vậy được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa…trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt và TNHS được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.

– Trường hợp phạm tội có hành vi đánh bạc trái phép và tiền hay hiện vật đánh bạc trị giá dưới 5 triệu nhưng chủ thể đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoạc hành vi quy định tại Điều 322 của BLHS năm 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Chủ thể của tội phạm này là người đạt độ tuổi theo luật định và có năng lực TNHS. Tội phạm này thực hiện với lỗi cố ý. Động cơ phạm tội là sát phạt nhau, tư lợi và mục đích là nhằm lấy tiền, tài sản từ người thua bạc.

Điều 321 BLHS năm 2015 quy định 2 khung hình phạt:

– Khung hình phạt cơ bản có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Khung hình phạt tăng nặng  có mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm áp dụng cho trường hợp phạm tội sau:

+ Có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu (Mức tối thiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015 là 5 triệu đồng) để truy cứu TNHS và lấy tiền hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính.

+ Tiền hoặc hiện vật  dùng đánh bạc trị giá 50 triệu đồng trở lên;

+ Sử dụng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội:

+ Tái phạm nguy hiểm;

Ngoài hình phạt chính nêu trên người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng./.

 

 Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

 

Tiêu Dao