Tìm hiểu Luật quản lý nợ công năm 2017

71

Ngày 23/11/2017, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV thông qua Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018, thay thế Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12, dưới đây là những nội dung cơ bản của Luật Quản lý nợ công năm 2017.

Ảnh minh họa.

 

  1. Những quy định chung (Chương I)

1.1. Về phạm vi điều chỉnh

  Luật quy định về quản lý nợ công, bao gồm hoạt động vay, sử dụng vốn vay, trả nợ và nghiệp vụ quản lý nợ công. Nợ công quy định tại Luật bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương (Điều 1).

1.2. Đối tượng áp dụng

Luật quy định đối tượng áp dụng quản lý nợ công là cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động vay, sử dụng vốn vay, trả nợ và nghiệp vụ quản lý nợ công (Điều 2).

1.3. Giải thích từ ngữ

Luật Quản lý nợ công năm 2017 giải thích các từ ngữ sau: “Nợ Chính phủ”; “Nợ được Chính phủ bảo lãnh”; “Nợ chính quyền địa phương”; “Vay”; “Vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA)”; “Vay ưu đãi nước ngoài”; “Vay thương mại”; “Thành tố ưu đãi”; “Công cụ nợ”; “Trái phiếu Chính phủ”; Trái phiếu chính quyền địa phương”; Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh”; Tín phiếu Kho bạc”; Công trái xây dựng Tổ quốc”; “Dư nợ”; “Nghĩa vụ nợ”; “Chi trả nợ”; “Cơ cấu lại nợ”; “Cho vay lại”; “Bảo lãnh Chính phủ”; “Hạn mức bảo lãnh Chính phủ”; “Rủi ro đối với danh mục nợ công” (Điều 3).

1.4. Phân loại nợ công

Luật Quản lý nợ công năm 2017 quy định nợ công bao gồm: nợ Chính phủ; nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Theo đó, nợ Chính phủ bao gồm: nợ do Chính phủ phát hành công cụ nợ; nợ do Chính phủ ký kết thỏa thuận vay trong nước, nước ngoài; nợ của ngân sách trung ương vay từ quỹ dự trữ tài chính của Nhà nước, ngân quỹ nhà nước, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Nợ được Chính phủ bảo lãnh bao gồm: nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh; nợ của ngân hàng chính sách của Nhà nước được Chính phủ bảo lãnh. Nợ chính quyền địa phương bao gồm: nợ do phát hành trái phiếu chính quyền địa phương; nợ do vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài; nợ của ngân sách địa phương vay từ ngân hàng chính sách của Nhà nước, quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh, ngân quỹ nhà nước và vay khác theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước (Điều 4).

1.5. Nguyên tắc quản lý nợ công

Trên cơ sở kế thừa một số quy định về nguyên tắc quản lý nợ công của Luật Quản lý nợ công năm 2009, Điều 5 Luật Quản lý nợ công năm 2017 quy định các nguyên tắc quản lý nợ công, cụ thể như sau: (1) Nhà nước quản lý thống nhất về nợ công, bảo đảm việc thực thi trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý nợ công; (2) Kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ công, bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô; (3) Việc đề xuất, thẩm định, phê duyệt chủ trương vay, đàm phán, ký kết thỏa thuận vay và phát hành công cụ nợ, phân bổ và sử dụng vốn vay phải đúng mục đích, hiệu quả. Vay cho bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên; (4) Bên vay, bên vay lại, đối tượng được Chính phủ bảo lãnh chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ, đúng hạn các nghĩa vụ liên quan đối với khoản vay, khoản vay lại, khoản vay được Chính phủ bảo lãnh. Không chuyển khoản nợ vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, nợ được Chính phủ bảo lãnh thành vốn cấp phát ngân sách nhà nước; (5) Bảo đảm chính xác, tính đúng, tính đủ nợ công; công khai, minh bạch trong quản lý nợ công và gắn với trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý nợ công.

1.6. Nội dung quản lý nhà nước về nợ công; giám sát việc quản lý nợ công; những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý nợ công; xử phạt vi phạm pháp luật về quản lý nợ công.

Điều 6 của Luật quy định nội dung quản lý nhà nước về nợ công, bao gồm: (1) Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nợ công; (2) Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch, giải pháp và chính sách về quản lý nợ công; (3) Tổ chức thực hiện quản lý nợ công, bap gồm đề xuất, thẩm định, phê duyệt chủ trương vay, đàm phán, ký kết thỏa thuận vay và phát hành công cụ nợ, phân bổ và sử dụng vốn vay, trả nợ và các doanh nghiệp vụ quản lý nợ công; (4) Theo dõi, cung cấp thông tin và đánh giá hiệu quả công tác quản lý, sử dụng nợ công; (5) Thanh tra, kiểm tra, kiểm toán việc thực hiện pháp luật về quản lý nợ công; (6) Khen thưởng, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về quản lý nợ công.

Bên cạnh đó, Luật bổ sung 01 điều quy định về giám sát việc quản lý nợ công. Theo đó, Luật quy định Quốc hội, Hội đồng nhân dân giám sát việc thực hiện pháp luật về quản lý nợ công theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân và quy định khác của pháp luật có liên quan. Đồng thời, giao Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát việc thực hiện pháp luật về quản lý nợ công theo quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và quy định khác của pháp luật có liên quan (Điều 7).

Đối với những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý nợ công, Luật Quản lý nợ công năm 2017 kế thừa hầu hết các quy định tại Điều 6 của Luật quản lý nợ công năm 2009, đồng thời bổ sung thêm hành vi thông đồng, thiếu trách nhiệm trong công tác thẩm định bị cấm trong quản lý nợ công. Theo đó, Luật quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý nợ công bao gồm: (1) Vay, cho vay, bảo lãnh không đúng thẩm quyền hoặc chưa được cấp có thẩm quyền cho phép, vượt hạn mức đã được cấp có thẩm quyền quyết định; (2) Sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức; không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ; (3) Vụ lợi, chiếm đoạt, tham nhũng trong quản lý, sử dụng nợ công; (4) Làm trái quy định của Nhà nước về quản lý nợ công; thiếu trách nhiệm gây thất thoát, lãng phí vốn vay; (5) Không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin về nợ công theo quy định của pháp luật; (6) Cản trở hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý nợ công (Điều 8).

Bên cạnh đó, Luật quy định cụ thể đối với việc xử lý vi phạm pháp luật về quản lý nợ công đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức và cơ quan, tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nợ công (Điều 9).

  1. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nợ công (Chương II)

Trên cơ sở rà soát các quy định hiện hành của Hiến pháp, các luật có liên quan như: Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Điều ước quốc tế, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Kiểm toán Nhà nước… Luật tiếp tục sửa đổi, điều chỉnh quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội (Điều 10); Chính phủ (Điều 13); Thủ tướng Chính phủ (14);  các Bộ, cơ quan ngang Bộ (Điều 15); Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (Điều 16); Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 17). Bên cạnh đó, Luật bổ sung 03 điều quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Điều 11); nhiệm vụ. quyền hạn của Chủ tịch nước (Điều 12); nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán Nhà nước (Điều 18). Đồng thời sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm của  cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận, sử dụng vốn vay hoặc bảo lãnh vay vốn (Điều 19) và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nợ công (Điều 20).

  1. Chỉ tiêu an toàn nợ công, kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm, chương trình quản lý nợ công 03 năm, kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm (Chương III)

Luật Quản lý nợ công năm 2009 không quy định cụ thể về các công cụ quản lý nợ công mà được lồng ghép vào các điều khoản cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan. Trên thực tế, việc xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch vay trả nợ công trong thời gian qua đã phát huy tác dụng và khẳng định sự cần thiết đối với quản lý nợ chủ động, phù hợp với thông lệ quốc tế. Do đó, Luật đã bố cục lại thành một chương riêng để quy định về chỉ tiêu an toàn, chiến lược, chương trình và kế hoạch vay, trả nợ công 05 năm, chương trình quản lý nợ công 03 năm và kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm.

Các công cụ quản lý nợ công tại Chương này cơ bản được luật hóa từ các quy định tại Nghị định số 79/2010/NĐ-CP ngày 10/4/2014 của Chính phủ về nghiệp vụ quản lý nợ công đồng thời tiếp cận được với thông lệ tốt của quốc tế. Việc xây dựng, triển khai các công cụ quản lý nợ công có tác động tích cực và khẳng định sự cần thiết đối với quản lý nợ chủ động. Quy định của Chương này bảo đảm phù hợp với các yêu cầu lập, thực hiện kế hoạch tài chính, ngân sách nhà nước, đầu tư công theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và Luật Đầu tư công năm 2014; đồng thời gắn kết giữa các kế hoạch này với kế hoạch vay, trả nợ về nội dung, kỳ kế hoạch và trách nhiệm xây dựng, thẩm quyền phê duyệt.

  1. Quản lý việc huy động, sử dụng vốn vay và trả nợ của Chính phủ (Chương IV)

Luật đã điều chỉnh nội dung mục đích vay của Chính phủ để bù đắp bội chi ngân sách trung ương cho đầu tư phát triển và chi trả nợ gốc đến hạn, cơ cấu lại các khoản nợ của Chính phủ. Theo đó, Điều 25 của Luật quy định mục đích vay của Chính phủ: (1) Bù đắp bội chi ngân sách trung ương cho đầu tư phát triển, không sử dụng vốn vay cho chi thường xuyên; (2) Bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trung ương và bảo đảm thanh khoản của thị trường trái phiếu Chính phủ; (3) Chi trả nợ gốc đến hạn, cơ cấu lại các khoản nợ của Chính phủ; (4) Cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp vay lại từ vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài.

Điều 26 của Luật quy định cụ thể hai hình thức vay của Chính phủ, gồm phát hành công cụ nợ và ký kết thỏa thuận vay; đồng thời quy định Chính phủ vay bằng nội tệ, ngoại tệ, kim loại quý hoặc hàng hóa quý đổi sang nội tệ hoặc ngoại tệ.

  1. Quản lý cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài (Chương V)

          So với Luật Quản lý nợ công năm 2009, việc cho vay lại vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ được quy định chặt chẽ hơn về đối tượng vay lại; điều kiện vay lại; thẩm định cho vay lại; bổ sung quy định về phương thức cho vay lại, dự phòng rủi ro cho vay lại và việc quản lý rủi ro cho vay lại.

  1. Cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ (Chương VI)

So với Luật Quản lý nợ công năm 2009, việc quản lý bảo lãnh Chính phủ được quy định theo hướng siết chặt điều kiện được bảo lãnh Chính phủ đối với từng nhóm đối tượng, bổ sung quy định về chủ trương cấp bảo lãnh Chính phủ; mức bảo lãnh Chính phủ đối với dự án đầu tư và quản lý rủi ro bảo lãnh Chính phủ.

  1. Quản lý nợ của chính quyền địa phương (Chương VII)

So với Luật Quản lý nợ công năm 2009, việc quản lý nợ chính quyền địa phương được quy định chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm, điều kiện vay và trả nợ của chính quyền địa phương; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan, đặc biệt là Luật Đầu tư công năm 2014 và Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.

  1. Bảo đảm khả năng trả nợ công

Luật đã dành riêng 01 chương quy định cụ thể hơn về bảo đảm khả năng trả nợ công; quản lý rủi ro đối với nợ công; quỹ tích lũy trả nợ.

  1. Kế toán, kiểm toán, thống kê, báo cáo và công bố thông tin về nợ công (Chương IX)

So với quy định của Luật Quản lý nợ công năm 2009, việc thống kê, báo cáo, công bố thông tin về nợ công được quy định chặt chẽ, xác định rõ yêu cầu về thống kê nợ công, xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về nợ công, làm rõ thông tin báo cáo, thời gian báo cáo và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc cung cấp và công bố thông tin nợ công.

  1. Điều khoản thi hành (Chương X)

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018 và Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa Luật này và Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13, Luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 thì áp dụng theo quy định của Luật này. Cùng đó, tại Chương này, Điều 63 của Luật Quản lý nợ công năm 2017 quy định điều khoản chuyển tiếp, đó là: các thỏa thuận vay được ký kết, công cụ nợ được phát hành hoặc được cấp bảo lãnh Chính phủ trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12./.

Quang Thắng