Tìm hiểu nội dung BLTTHS năm 2015 về “Bị can”

39

Tại Điều 60, Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.

 

Ảnh minh họa.

 

Bị can là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự. Một người hoặc một pháp nhân chỉ có thể bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình sự khi có đủ căn cứ xác định người hoặc pháp nhân đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Không ai hoặc pháp nhân nào có thể bị coi là bị can nếu không có quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền.

BLHS năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Tương ứng với quy định của Bộ luật hình sự, bị can trong tố tụng hình sự không chỉ là cá nhân theo quan niệm truyền thống mà bao gồm cả pháp nhân bị khởi tố về hình sự.

BLTTHS quy định các quyền của bị can theo hướng tạo cơ sở cho bị can bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng, ngăn chặn những vi phạm từ phía cơ quan có thểm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Theo điều luật bị can có quyền biết mình bị khởi tố về tội gì; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Bị can được nhận quyến định khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, quyết định truy tố; được giao nhận quyết định đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đối với kết luận giám định, bị can có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra thông báo về nội dung kết luận giám định; được trình bày những ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Trường hợp Cơ quan điều tra không chấp nhận yêu cầu của bị can thì phải nêu rõ lí do và báo cho bị can biết.

So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 bổ sung, cụ thể hóa 06 quyền của bị can, bao gồm đưa ra chứng cứ; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người định giá tài sản, người dịch thuật; có quyền đọc, ghi chép bản sao hoặc tài liệu đã được số hóa liên quan đến việc buộc tội họ trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra theo quy định của BLTTHS năm 2015 khi có yêu cầu. Những bổ sung, sữa đổi này nhằm tạo cơ sở pháp lý phù hợp với các quy định mới của BLTTHS năm 2015.

Bị can có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, viện kiểm sát trong trường hợp vắng mặt không có lí do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã. Trong trường hợp bị can được tại ngoại, khi cần triệu tập bị can để tiến hành tố tụng phải triệu tập bị can bằng giấy triệu tập theo đúng thủ tục quy định, trong đó ghi rõ thời gian, địa điểm bị can phải có mặt. Bị can phải chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

 

Điều 60. Bị can

1. Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.

2. Bị can có quyền:

a) Được biết lý do mình bị khởi tố;

b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

c) Nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

g) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

h) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

i) Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;

k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

3. Bị can có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã;

b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

4. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa khi bị can có yêu cầu quy định tại điểm i khoản 2 Điều này.

 

Tiêu Dao