Tìm hiểu nội dung Điều 123 BLTTHS năm 2015 về “Cấm đi khỏi nơi cư trú”

34

Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng buộc các bị can, bị cáo không đi khỏi nơi cư trú của mình và phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án…

 

Ảnh minh họa.

 

– Đây là biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc hơn biện pháp tạm giam, bị can, bị cáo không bị cách ly ra khỏi xã hội mà chỉ bị hạn chế quyền tự do đi lại.

– Đối tượng bị áp dụng: Chủ yếu là các bị can, bị cáo nơi cư trú, lý lịch rõ ràng, phạm tội ít nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng mà bị can, bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo hoặc tự thú, không có dấu hiệu bỏ trốn, có nơi cư trú rõ ràng, Cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với họ. Bởi lẽ, điều luật này cũng như các quy định khác trong BLTTHS không có quy định bắt buộc biện pháp này chỉ được áp dụng với tội ít nghiêm trọng mà không được áp dụng với tội rất nghiêm trọng. Căn cứ nơi cư trú rõ ràng thường được hiểu là bị can, bị cáo có nơi ổn định, thường xuyên, đã đăng ký thường trú ở địa điểm đó.

– Thẩm quyền và thủ tục áp dụng: Thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là những người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, đặt tiền để đảm bảo, ngoài ra, đồn trưởng Đồn biên phòng cũng có thẩm quyền áp dụng biện pháp này. Người được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ được quy định ở khoản 2 điều này. Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo để quản lý, theo dõi. Bị can, bị cáo muốn đi khỏi nơi cư trú phải được sự đồng ý của chính quyền xã phường, thị trấn nơi cư trú và có giấy phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

BLTTHS năm 2015 đã quy định việc tạm rời khỏi nơi cư trú chỉ khi vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Lý do được tạm rời khỏi nơi cơ trú theo luật mới hẹp hơn rất nhiều quy định của BLTTHS năm 2003.

–  Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được xác định theo thời hạn điều tra, truy tố, xét xử. Trên thực tế các lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, cơ quan tiến hành tố tụng thường xác định thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc thời hạn điều tra hoặc đến khi kết thúc thời hạn truy tố…

 

Điều 123. Cấm đi khỏi nơi cư trú

1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

2. Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

a) Không đi khỏi nơi cư trú nếu không được cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép;

b) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

c) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

d) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

3. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

4. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

5. Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý, theo dõi họ.

Trường hợp bị can, bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội quản lý họ và phải có giấy cho phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

6. Nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo phải báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú biết để xử lý theo thẩm quyền.

 

 

Thanh Đạt