Tìm hiểu nội dung Điều 507 BLTTHS năm 2015 về “Xử lý tài sản do phạm tội mà có”

52

Tài sản do phạm tội mà có là những vật, tiền người phạm tội có được ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội hoặc sau khi định đoạt những tài sản đó mà có.

 

Ảnh minh họa.

 

Căn cứ vào thời điểm “có được” vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, có thể chia vật, tiền do phạm tội mà có thành các loại: Vật, tiền bạc mà người phạm tội chiếm đoạt trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt; Vật, tiền bạc mà người phạm tội có được sau khi định đoạt vật và tiền bạc đã chiếm đoạt trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt. Đó có thể là vật, tiền do mua bán, đổi chác những thứ đã chiếm đoạt mà có; vật, tiền lời, lãi từ việc sử dụng trái phép tiền của Nhà nước, tập thể, cá nhân gửi tiết kiệm, cho vay lãi.

Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Như vậy, mục đích của việc hợp tác quốc tế trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu tài sản do phạm tội mà có là để giải quyết vụ án hình sự tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài.

Theo quy định tại Công ước quốc tế ngày 15/11/2000 của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Công ước quốc tế ngày 31/10/2003 của Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng, thì các quốc gia thành viên có trách nhiệm áp dụng các biện pháp do pháp luật quốc gia quy định để truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có.

Khoản 2 và khoản 3 Điều 507 Bộ luật tố tụng hình sự quy định việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có xuất phát từ cam kết của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi tham gia hai Công ước quốc tế nêu trên. Theo đó:

– Việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.

– Việc xử lý tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thỏa thuận trong từng vụ việc cụ thể giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có liên quan.

 

Điu 507. X lý tài sn do phm ti mà

1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

2. Việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.

3. Việc xử lý tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thoả thuận trong từng vụ việc cụ thể giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có liên quan.

 

 

Thanh Đạt