Tìm hiểu nội dung về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Điều 175 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

2372

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái phép và mong muốn hậu quả xảy ra. Mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản của người khác.

 

Ảnh minh họa.

 

Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá.

Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thể hiện bởi hai nhóm hành vi  sau:

– Một là, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đã đến thời hạn trả lại tài sản và mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

– Hai là, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Hợp đồng trong tội lạm dụng tín nhiệm là hợp đồng đúng đắn, ngay thẳng. Ở thời điểm ký kết hợp đồng, người phạm tội chưa có ý định chiếm đoạt tài sản. Nếu hợp đồng gian dối để được giao tài sản và chiếm đoạt tài sản đó thì phải coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

– Về giá trị tài sản, thì hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bị coi là phạm tội khi tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 04 triệu đồng trở lên hoặc dưới 04 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Các trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 04 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 04 triệu đồng : đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái phép và mong muốn hậu quả xảy ra. Mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản của người khác.

Điều 175 BLHS quy định bốn khung hình phạt đối với người phạm tội.

– Khung hình phạt quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm áp dụng đối với ngừi phạm tội không có tình tiết tăng nặng định khung hình phạt.

– Khung hình phạt quy định phạt tù từ 02 năm đến 07 năm áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tái phạm nguy hiểm.

– Khung hình phạt quy định phạt tù từ 05 năm đến 12 năm áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

– Khung hình phạt quy định phạt tù từ 12 năm đến 20 năm áp dụng đối với người phạm tội chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên;

– Hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 175 BLHS là người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, so với quy định tại Điều 140 BLHS năm 2009, thì quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:

– Về yếu tố cấu thành tội phạm, thì đồng tời với việc bổ sung tình tiết định tội (tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ0, BLHS không quy định hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị dưới 04 triệu đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây là phạm tội:

+ Một là, đã bị xử phạt hành chính về hành vi tham ô tài sản hoặc hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản,  chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm;

+ Hai là, đã bị kết án về tội tham ô tài sản hoặc tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

– Bỏ tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng”, bổ sung các tình tiết “Có tính chất chuyên nghiệp”, “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.

– Bỏ tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng” tại khoản 3.

– Bỏ tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 4.

– Quy định mức hình phạt tù “từ 05 năm đến 12 năm” thay cho mức hình phạt tù “từ 07 năm đến 15 năm” tại khỏan 3; bỏ hình phạt tù chung thân tại khoản 4.

 

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 

Tiêu Dao